Tài sản trí tuệ trong các ngành công nghiệp văn hóa

Đó là một trong số những chính sách được xây dựng tại Dự thảo Luật phát triển công nghiệp văn hóa với điểm then chốt là tháo gỡ triệt để các rào cản, để tài sản trí tuệ không chỉ được bảo hộ mà còn được định giá, thương mại hóa và trở thành nguồn vốn.

trinh-chieu-3d-1787022529.jpg
Hình ảnh tại sự kiện Trưng bày chuyên đề “Vũ khúc Thiền môn - Nghệ thuật Phật giáo thời Lý: Di sản và Công nghệ” tại Bảo tàng Lịch sử quốc gia thông qua việc sử dụng công nghệ kỹ thuật số, góp phần phục dựng, tái tạo, hồi sinh các di sản văn hóa quý giá. Qua đó, giúp công chúng hiểu sâu sắc, trân quý hơn những giá trị văn hóa truyền thống, góp phần nâng cao ý thức bảo tồn, phát huy những giá trị văn hóa dân tộc.

Tài sản trí tuệ trong các ngành công nghiệp văn hoá là yếu tố đột phá tạo ra giá trị gia tăng lớn nhất, tạo động lực tăng trưởng quan trọng nhất của công nghiệp văn hoá, có thể tạo ra nhiều sản phẩm phái sinh. Khác với các ngành sản xuất truyền thống dựa vào vốn hữu hình và tài nguyên thiên nhiên, giá trị gia tăng lớn nhất của ngành công nghiệp văn hoá nằm ở sự sáng tạo và tài sản trí tuệ. Một tài sản trí tuệ trong ngành văn hóa (như một kịch bản, một nhân vật hoạt hình, một bản ghi âm hay một trò chơi điện tử) có khả năng tạo ra vô số các sản phẩm phái sinh, mở rộng chuỗi giá trị và sinh lời liên tục qua nhiều năm.

Hệ thống pháp luật hiện hành đã làm tương đối tốt nhiệm vụ bảo hộ quyền. Tuy nhiên, pháp luật còn thiếu vắng các chính sách phát triển giá trị kinh tế của quyền đó, nghĩa là chưa có công cụ và hành lang pháp lý để giúp tài sản trí tuệ sinh ra tiền, trở thành vốn và lưu thông bình đẳng trên thị trường tài chính.

Điểm then chốt của chính sách này là tháo gỡ triệt để các rào cản: Sự thiếu hụt công cụ quản lý và truy xuất vòng đời tài sản trên môi trường số; tình trạng thiếu hồ sơ chuẩn hóa phục vụ thương mại hóa; rào cản trong tiếp cận vốn tín dụng bằng tài sản trí tuệ; thiếu công cụ hỗ trợ bảo vệ quyền sáng tạo và sự bất cập về năng lực định giá tài sản trí tuệ.

Từ thực tiễn này, dự thảo Luật Phát triển công nghiệp văn hóa đề xuất 04 nhóm giải pháp trọng tâm: Số hóa, định danh và chuẩn hóa quản lý tài sản trí tuệ với việc áp dụng mã định danh tài sản trí tuệ tương thích quốc tế để nhận diện, truy xuất và kết nối dữ liệu liên thông trên môi trường số. Chuẩn hóa hồ sơ tài sản trí tuệ dưới dạng số (gồm thông tin pháp lý, thông tin tài chính, thông tin hạn chế tiếp cận) làm nền tảng hỗ trợ định giá, giao dịch, bảo hộ và vay vốn tín dụng mà không làm thay đổi hay phát sinh quyền sở hữu trí tuệ.

Khai thông nguồn vốn và chính thức hóa giao dịch tài sản trí tuệ: Cho phép sử dụng tài sản trí tuệ để góp vốn làm tài sản bảo đảm. Giao Ngân hàng Nhà nước chủ trì xây dựng cơ chế quản lý rủi ro, bảo lãnh tín dụng, chia sẻ rủi ro và hướng dẫn các tổ chức tín dụng cấp vốn dựa trên giá trị tài sản trí tuệ hoặc quyền tài sản phát sinh; đồng thời cho phép tổ chức tín dụng sử dụng kết quả thẩm định giá chuyên nghiệp làm căn cứ xác định giá trị tài sản bảo đảm. Quy định ưu tiên tiếp tục khai thác, chuyển nhượng tài sản trí tuệ khi doanh nghiệp giải thể, phá sản nhằm duy trì chuỗi giá trị kinh tế.

Hỗ trợ công cụ quản lý sáng tạo và bảo hộ bản quyền là giải pháp tiếp theo. Trong đó cung cấp các công cụ số hỗ trợ xác thực chủ thể, lưu nhật ký sáng tạo có giá trị chứng cứ pháp lý, tự động lập hồ sơ và kết nối liên thông với các cơ sở dữ liệu quốc gia, hệ thống định danh điện tử và sàn giao dịch tài sản trí tuệ. Nhà nước cung cấp miễn phí các công cụ hỗ trợ cơ bản cho người dân; đồng thời khuyến khích doanh nghiệp phát triển các công cụ nâng cao theo cơ chế thị trường.

Cuối cùng là nâng cao năng lực và bảo vệ pháp lý cho hoạt động định giá thông qua việc xây dựng phương pháp, tiêu chuẩn định giá phù hợp thông lệ quốc tế; tổ chức đào tạo chuyên sâu theo chuẩn WIPO cho thẩm định viên, luật sư, cán bộ tín dụng; công khai định kỳ cơ sở dữ liệu giá giao dịch thực tế để làm căn cứ tham chiếu; Áp dụng cơ chế miễn trừ trách nhiệm cho thẩm định viên và người phê duyệt kết quả định giá đối với các thiệt hại kinh tế phát sinh do biến động thị trường về sau, nếu đã thực hiện đúng chuẩn nghề nghiệp, đúng thẩm quyền, trung thực, khách quan và không vụ lợi.

P.V