Nhân lực công nghiệp văn hóa: Yếu tố cốt lõi, quyết định sức sáng tạo

Nếu tài sản trí tuệ là nguồn lực có khả năng tạo ra giá trị gia tăng lớn thì nhân lực công nghiệp văn hóa là yếu tố cốt lõi, quyết định sức sáng tạo và tính cạnh tranh của toàn ngành.

cong-nghiep-van-hoa-1787021523.jpg
Ảnh minh họa. Nguồn: internet

Công nghiệp văn hóa chính thức được đưa vào Nghị quyết số 33-NQ/TW ngày 09/6/2014 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước như một mục tiêu, nhiệm vụ cụ thể. Sau 12 năm nỗ lực triển khai, tỷ trọng công nghiệp văn hóa trong GDP Việt Nam cả giai đoạn 2018-2025 ước đạt 4-5%, tuy nhiên vẫn còn khoảng cách rất xa so với mục tiêu đặt ra đến năm 2030 là tối thiểu 7%, khó có thể bứt phá nếu không có một “cú huých” về mặt chính sách kiến tạo của Nhà nước.

Dự thảo Luật phát triển công nghiệp văn hóa nhằm xác định đúng các cơ chế, chính sách mang tính then chốt để tạo khung khổ pháp lý thúc đẩy công nghiệp văn hóa. 

Có thể thấy, đây là lần đầu tiên, dự thảo Luật quy định việc xây dựng Khung năng lực nhân lực công nghiệp văn hóa, phù hợp với Khung trình độ quốc gia Việt Nam và các khung tham chiếu quốc tế, làm căn cứ chuẩn hóa toàn bộ hoạt động đào tạo, đánh giá và phát triển nguồn nhân lực, với việc đề xuất 03 nhóm giải pháp đột phá:

Đổi mới phát triển nhân lực trong hệ thống giáo dục quốc dân: Tăng cường giáo dục nghệ thuật từ cấp phổ thông để phát hiện sớm tài năng; đặc cách tuyển thẳng thí sinh có năng khiếu vào Đại học, Cao đẳng; ưu tiên mở các ngành liên ngành gắn với công nghệ và trí tuệ nhân tạo. Công nhận các danh hiệu Nghệ sĩ Nhân dân, Nghệ sĩ Ưu tú, Nghệ nhân Nhân dân, Nghệ nhân Ưu tú đáp ứng tiêu chuẩn nhà giáo để trực tiếp giảng dạy; cho phép tính chuyên gia, nghệ sĩ từ doanh nghiệp tham gia đào tạo là giảng viên cơ hữu khi xác định chỉ tiêu tuyển sinh.

Đổi mới chương trình đào tạo mở, công nhận tín chỉ kỹ năng nghề, hỗ trợ học phí, chi phí sinh hoạt và kết nối doanh nghiệp bảo đảm việc làm cho người học; đồng thời, cho phép cơ sở đào tạo gắn giảng dạy với dự án, xưởng sáng tác, studio, bảo tàng, nhà hát và phân chia minh bạch lợi ích tài sản trí tuệ từ hoạt động đào tạo.

Ươm mầm tài năng đỉnh cao: Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình phát triển tài năng, bồi dưỡng năng khiếu theo từng thời kỳ; tập trung nguồn lực hỗ trợ toàn diện theo hình thức học bổng từ chi phí học tập, thực hành, nghiên cứu, cố vấn, đào tạo trong và ngoài nước đến bảo hộ tài sản trí tuệ cho các cá nhân xuất sắc có khả năng tạo tác động dẫn dắt thị trường.

Thu hút và trọng dụng nhân lực chất lượng cao: Áp dụng ưu đãi thuế thu nhập cá nhân, cơ chế lương thưởng cạnh tranh khu vực, hỗ trợ môi trường sống, làm việc, phương tiện đi lại, hỗ trợ tài chính cho nghiên cứu, phát triển và hợp tác quốc tế đối với nhân lực trong và ngoài nước; cấp thẻ tạm trú thời hạn 05 năm cho chuyên gia nước ngoài và gia đình (vợ/chồng, con dưới 18 tuổi).

Đặc biệt, đối với khu vực công, dự thảo Luật cho phép tiếp nhận vào công chức, viên chức không qua thi tuyển, bổ nhiệm lãnh đạo không phụ thuộc điều kiện thời gian công tác hay quy hoạch và mở cơ chế linh hoạt cho nhân lực chất lượng cao từ khu vực tư quay trở lại khu vực công được hưởng chế độ, chính sách về lương, phụ cấp, ngạch, hạng tương đương trước đây.

P.V