
Thực tiễn cho thấy, Việt Nam đang hội tụ đầy đủ các nguồn lực và điều kiện thuận lợi để bứt phá trở thành một trung tâm công nghiệp văn hóa năng động trong khu vực. Với kho tàng di sản tài nguyên văn hóa đồ sộ, giàu bản sắc, Việt Nam sở hữu hệ thống di sản văn hóa vật thể, phi vật thể, di tích lịch sử, danh lam thắng cảnh phong phú và hàng nghìn nghề truyền thống. Đây là nguồn nguyên liệu sáng tạo vô tận, có giá trị kinh tế gia tăng rất cao để khai thác phát triển các ngành du lịch văn hóa, điện ảnh, âm nhạc, thiết kế, thời trang và thủ công mỹ nghệ.
Cùng với đó là nguồn nhân lực trẻ dồi dào và khả năng sáng tạo cao: Lực lượng lao động trong độ tuổi vàng với tinh thần đổi mới sáng tạo, nhanh nhạy với công nghệ và xu hướng mới.
Đội ngũ trí thức, văn nghệ sĩ, các nhà thiết kế trẻ, các nhà sản xuất nội dung số tại Việt Nam đã và đang khẳng định năng lực qua nhiều sản phẩm có tiếng vang trong nước và quốc tế.
Thị trường tiêu dùng văn hóa nội địa rộng lớn và năng động. Sự trỗi dậy của khu vực tư nhân và hạ tầng chuyển đổi số ngày càng chủ động, tự tin đầu tu vào các chuỗi cụm sáng tạo, tổ hợp nghệ thuật, các nền tảng phân phối số.
Sự phát triển của hạ tầng viễn thông, công nghệ thông tin (AI, Big Data, Blockchain) đang mở ra không gian phát triển hoàn toàn mới cho kinh tế sáng tạo.
Tầm nhìn đột phá từ 6 trụ cột chính sách
Dự thảo Luật được xây dựng theo hướng tạo một khung chính sách liên ngành, tháo gỡ các “điểm nghẽn”, làm rõ các “điểm mở” và bổ sung các “khoảng trống” đã được nhận diện trong thực tiễn, qua đó khơi thông nguồn lực và thúc đẩy công nghiệp văn hóa trở thành một ngành kinh tế có đóng góp ngày càng quan trọng cho tăng trưởng đất nước.
Dự thảo Luật hướng tới 3 mục tiêu lớn: Xác lập vị trí của công nghiệp văn hóa trong cơ cấu kinh tế Việt Nam; Kết nối chuỗi giá trị để gia tăng giá trị kinh tế, xuất khẩu và thu hút đầu tư chiến lược; Đồng thời, lan tỏa bản sắc văn hóa Việt Nam, thương hiệu Việt Nam và sức mạnh mềm Việt Nam trên trường quốc tế.
Trải rộng trên các lĩnh vực từ điện ảnh, nghệ thuật biểu diễn, mỹ thuật, quảng cáo, du lịch văn hóa cho đến phần mềm, trò chơi giải trí, thiết kế sáng tạo..., Dự thảo Luật tạo nên một khung khổ mới, biến tiềm năng văn hóa thành sức mạnh kinh tế thực chất.
Theo Dự thảo, Luật Phát triển công nghiệp văn hóa bao gồm 9 Chương và 60 Điều quy định về phát triển công nghiệp văn hóa, quyền và trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan. Trong đó, Dự thảo Luật tập trung giải quyết các vấn đề mang tính then chốt để thúc đẩy công nghiệp văn hóa thông qua 6 nhóm chính sách.
Chính sách 1: Hệ sinh thái công nghiệp văn hóa
Sự phát triển của công nghiệp văn hóa phụ thuộc rất lớn vào khả năng liên kết giữa các chủ thể trong chuỗi giá trị. Một sản phẩm văn hóa muốn thành công cần sự tham gia của nhiều yếu tố, từ người sáng tạo, doanh nghiệp, nhà đầu tư, cơ sở đào tạo, tổ chức công nghệ đến các hiệp hội và cơ quan quản lý nhà nước.
Tuy nhiên, thực tế hiện nay còn tồn tại tình trạng thiếu kết nối, chia sẻ thông tin giữa các thành tố; chi phí và công cụ công nghệ phục vụ sáng tạo còn là rào cản đối với nhiều cá nhân, tổ chức; kỹ năng số và hạ tầng dữ liệu dùng chung chưa đáp ứng yêu cầu; trong khi pháp luật chưa phải lúc nào cũng theo kịp các mô hình kinh doanh và sản phẩm văn hóa mới dựa trên công nghệ.
Để khắc phục những hạn chế này, dự thảo Luật đề xuất xây dựng và củng cố hệ sinh thái công nghiệp văn hóa theo 4 hướng trọng tâm gồm: (1) Định hình toàn diện hệ sinh thái và thiết lập cơ chế đánh giá, liên kết chuỗi giá trị; (2) Hỗ trợ toàn diện các hoạt động nền tảng của hệ sinh thái; (3) Đầu tư bộ công cụ sáng tạo và cung cấp gói dịch vụ cơ bản miễn phí cho toàn dân; (4) Thiết lập cơ chế thử nghiệm có kiểm soát (Sandbox) cho các mô hình văn hoá công nghệ mới.
Chính sách 2: Tài sản trí tuệ trong các ngành công nghiệp văn hóa
Tài sản trí tuệ trong các ngành công nghiệp văn hóa là yếu tố đột phá tạo ra giá trị gia tăng lớn nhất, tạo động lực tăng trưởng quan trọng nhất của công nghiệp văn hóa, có thể tạo ra nhiều sản phẩm phái sinh. Khác với các ngành sản xuất truyền thống dựa vào vốn hữu hình và tài nguyên thiên nhiên, giá trị gia tăng lớn nhất của ngành công nghiệp văn hóa nằm ở sự sáng tạo và tài sản trí tuệ. Một tài sản trí tuệ trong ngành Văn hóa (như một kịch bản, một nhân vật hoạt hình, một bản ghi âm hay một trò chơi điện tử) có khả năng tạo ra vô số các sản phẩm phái sinh, mở rộng chuỗi giá trị và sinh lời liên tục qua nhiều năm.
Hệ thống pháp luật hiện hành đã có hệ thống bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ tương đối đầy đủ. Tuy nhiên, vấn đề đặt ra là làm thế nào để quyền đó tiếp tục được phát triển thành giá trị kinh tế, trở thành tài sản có thể định giá, giao dịch và sử dụng để huy động vốn. Vì vậy, điểm then chốt của chính sách này là tháo gỡ triệt để các rào cản: Sự thiếu hụt công cụ quản lý và truy xuất vòng đời tài sản trên môi trường số; tình trạng thiếu hồ sơ chuẩn hóa phục vụ thương mại hóa; rào cản trong tiếp cận vốn tín dụng bằng tài sản trí tuệ; thiếu công cụ hỗ trợ bảo vệ quyền sáng tạo và sự bất cập về năng lực định giá tài sản trí tuệ.
Dự thảo Luật đề xuất bốn nhóm giải pháp gồm: (1) Số hóa, định danh và chuẩn hóa quản lý tài sản trí tuệ; (2) Khai thông nguồn vốn và chính thức hóa giao dịch tài sản trí tuệ; (3) Hỗ trợ công cụ quản lý sáng tạo và bảo hộ bản quyền; (4) Nâng cao năng lực và bảo vệ pháp lý cho hoạt động định giá.
Chính sách 3: Nhân lực công nghiệp văn hóa
Nhân lực công nghiệp văn hóa là yếu tố cốt lõi, quyết định năng lực sáng tạo và sức cạnh tranh của toàn ngành. Chính sách này nhằm tháo gỡ triệt để các điểm nghẽn về: tiêu chuẩn nhà giáo; tính liên thông trong đào tạo; quy trình tuyển dụng, bổ nhiệm đối với khu vực công; cơ chế đãi ngộ nhân lực chất lượng cao; cùng tình trạng phân tán nguồn lực đầu tư cho tài năng.
Lần đầu tiên, dự thảo Luật quy định việc xây dựng Khung năng lực nhân lực công nghiệp văn hóa, phù hợp với
Khung trình độ quốc gia Việt Nam và các khung tham chiếu quốc tế, làm căn cứ chuẩn hóa toàn bộ hoạt động đào tạo, đánh giá và phát triển nguồn nhân lực.
Trên cơ sở đó, dự thảo Luật đề xuất 03 nhóm giải pháp đột phá: (1) Đổi mới phát triển nhân lực trong hệ thống giáo dục quốc dân; (2) Ươm mầm tài năng đỉnh cao; (3) Thu hút và trọng dụng nhân lực chất lượng cao.

Chính sách 4: Hạ tầng công nghiệp văn hóa
Hạ tầng là điều kiện nền tảng, đóng vai trò vừa là tiền đề vừa là cơ sở quyết định để công nghiệp văn hóa phát triển.
Hạ tầng công nghiệp văn hoá là khái niệm mới. Nghị quyết số 28/2026/QH16 ngày 24/4/2026 của Quốc hội về phát triển văn hóa Việt Nam cụ thể hóa bởi Nghị định số 277/2026/NĐ-CP ngày 09/7/2026 của Chính phủ về Hạ tầng văn hóa số và Nghị định số 282/2026/NĐ-CP ngày 14/7/2026 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và hướng dẫn thi hành Nghị quyết số 28/2026/QH16 ngày 24/4/2026 của Quốc hội về phát triển văn hóa Việt Nam, đã đưa ra nhiều khái niệm liên quan hạ tầng công nghiệp văn hóa như: Tổ hợp, cụm, khu công nghiệp, trung tâm đổi mới sáng tạo văn hóa và hạ tầng văn hóa số.
Trên cơ sở kế thừa các quy định hiện hành, dự thảo Luật đưa ra khái niệm và cấu trúc tương đối toàn diện về hạ tầng công nghiệp văn hóa, gồm 4 nhóm thành phần: (1) Công trình hạ tầng công nghiệp văn hóa (công trình quốc gia và công trình cấp tỉnh); (2) Tổ hợp sáng tạo văn hóa, cụm, khu công nghiệp sáng tạo văn hóa; (3) Không gian công cộng cho hoạt động công nghiệp văn hóa; (4) Hạ tầng văn hóa số.
Đối với hạ tầng văn hóa số, hạ tầng dữ liệu được xác định là cấu phần cốt lõi và chuẩn hoá các nền tảng số quan trọng, bao gồm: kho dữ liệu văn hóa số quốc gia; cơ sở dữ liệu về văn hóa; hệ thống nền tảng số, phần mềm, công cụ kỹ thuật phục vụ tạo lập, chuẩn hóa, quản trị, lưu trữ, kết nối, chia sẻ, phân tích và khai thác dữ liệu văn hóa số, đồng thời hỗ trợ bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ.
Dự thảo Luật cũng đẩy mạnh phân cấp, trong đó giao trách nhiệm cho Ủy ban nhân dân cấp xã chủ động số hóa, thu thập và cập nhật dữ liệu văn hóa tại địa phương. Đặc biệt, dự thảo Luật thiết lập hệ thống các cơ chế, chính sách mang tính đột phá nhằm giải phóng tối đa nguồn lực và thu hút mạnh mẽ các dòng vốn đầu tư xã hội.
Chính sách 5: Thị trường công nghiệp văn hóa
Thị trường công nghiệp văn hóa là yếu tố then chốt, mang tính quyết định sự thành công. Điểm đặc trưng khác biệt của các ngành công nghiệp văn hóa so với các ngành công nghiệp khác là ngành công nghiệp văn hoá có thể huy động được toàn dân tham gia vừa là chủ thể sáng tạo, vừa là chủ thể tiêu thụ. Và nếu huy động được toàn dân thì các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam sẽ có bước phát triển đột phá.
Tuy nhiên, sự phát triển của thị trường công nghiệp văn hóa đang đối mặt với nhiều rào cản lớn: Thiếu thước đo định lượng để phân bổ nguồn lực; năng lực quản trị, năng lực số và thương hiệu của doanh nghiệp còn hạn chế; thiếu hạ tầng giao dịch và định giá tài sản trí tuệ; chi phí tiếp cận sản phẩm văn hóa của các đối tượng chính sách còn cao; cùng các rào cản trong hoạt động xúc tiến thương mại và vươn ra thị trường quốc tế.
Để khắc phục hạn chế, điểm nghẽn trên và thúc đẩy thị trường công nghiệp văn hoá Việt Nam phát triển bứt phá, dự thảo Luật đưa ra 05 nhóm giải pháp trọng tâm, cụ thể: (1) Chuẩn hóa và định hình sản phẩm công nghiệp văn hóa mũi nhọn; (2) Nâng cao năng lực doanh nghiệp và phát triển Thương hiệu công nghiệp văn hóa quốc gia; (3) Khai thông hạ tầng giao dịch tài sản trí tuệ và sản phẩm công nghiệp văn hóa; (4) Thúc đẩy tiêu dùng văn hóa toàn dân qua công cụ số; (5) Đẩy mạnh xúc tiến thương mại và xuất khẩu văn hóa.
Chính sách 6: Tài chính và hỗ trợ, ưu đãi đầu tư
Điểm then chốt của chính sách này là tháo gỡ các điểm nghẽn lớn về nguồn lực, bao gồm: Sự phân tán và thiếu hụt các nguồn tài chính chuyên biệt cho văn hóa; rào cản trong việc huy động vốn tư nhân và cơ chế chia sẻ rủi ro giữa Nhà nước với doanh nghiệp; chính sách ưu đãi đầu tư chưa đủ sức hấp dẫn đối với hạ tầng và các sản phẩm trọng điểm; rào cản về thuế, phí, tín dụng đối với các doanh nghiệp nhỏ, hợp tác xã và hộ sáng tạo; cùng sự thiếu vắng các chính sách để cạnh tranh quốc tế để thu hút các nhà đầu tư chiến lược nước ngoài có khả năng đưa sản phẩm văn hóa Việt Nam vươn ra toàn cầu.
Dự thảo Luật đề xuất 05 nhóm giải pháp trọng tâm nhằm tạo đột phá về cơ chế tài chính và ưu đãi đầu tư: (1) Đa dạng hóa nguồn tài chính và thiết lập cơ chế đồng đầu tư; (2) Ưu đãi đặc biệt cho hạ tầng, tổ hợp và cụm công nghiệp sáng tạo; (3) Tạo đòn bẩy hỗ trợ tổ chức, doanh nghiệp và cá nhân sáng tạo; (4) Ưu đãi vượt trội cho sản phẩm trọng điểm và tài sản trí tuệ cốt lõi; (5) Thu hút nhà đầu tư chiến lược nước ngoài và khuyến khích cơ sở công cộng.
Từ một chủ trương được xác lập qua nhiều năm đến yêu cầu cấp thiết về một đạo luật chuyên ngành, phát triển công nghiệp văn hóa đang bước vào giai đoạn mới. Dự thảo Luật Phát triển công nghiệp văn hóa được kỳ vọng không chỉ hoàn thiện hành lang pháp lý, mà quan trọng hơn là tạo “cú huých” chính sách, kiến tạo thị trường, kết nối chuỗi giá trị và biến những giá trị văn hóa, sáng tạo thành nguồn lực cho phát triển kinh tế đất nước.
Dự thảo Luật Phát triển công nghiệp văn hóa đề xuất 6 trụ cột chính sách đột phá, hướng tới hoàn thiện thể chế, tạo lập môi trường thuận lợi cho phát triển công nghiệp văn hóa, huy động các nguồn lực xã hội, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực cạnh tranh của các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam.