Tháo gỡ vướng mắc cho hệ thống thiết chế văn hóa cơ sở sau sắp xếp
Phát biểu tại hội trường, đại biểu Trần Thị Diệu Thúy - Đoàn đại biểu Quốc hội Thành phố Hồ Chí Minh - đánh giá cao và đồng tình với các nội dung đột phá cụ thể trong dự thảo Nghị quyết của Quốc hội về phát triển văn hóa Việt Nam, đồng thời tham gia góp ý thêm một số nội dung cụ thể như sau:
Thứ nhất, về hệ thống thiết chế văn hóa cấp tỉnh và cấp xã, theo Nghị quyết số 105 ngày 08/4/2026 của Chính phủ, định hướng sắp xếp đơn vị sự nghiệp lĩnh vực văn hóa, thể thao và du lịch được xác định như sau:
Ở cấp tỉnh, sắp xếp theo hướng tối đa không quá 7 đơn vị sự nghiệp công lập cung ứng dịch vụ sự nghiệp công tương ứng với 7 lĩnh vực gồm: bảo tàng, thư viện, biểu diễn nghệ thuật, văn hóa, thể thao, xúc tiến du lịch, quản lý di tích, trường phổ thông năng khiếu, trường trung cấp văn hóa, nghệ thuật du lịch (nếu có). Trong đó, giao một đơn vị phục vụ quản lý nhà nước (nếu có).
Ở cấp xã, Ủy ban nhân dân cấp xã quyết định thành lập đơn vị sự nghiệp công lập cung ứng các dịch vụ sự nghiệp công cơ bản, thiết yếu, đa ngành, đa lĩnh vực, gồm: văn hóa, thể thao, du lịch, thông tin, truyền thông, môi trường, khuyến nông đô thị thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã trên cơ sở đơn vị sự nghiệp công lập cung ứng các dịch vụ sự nghiệp công cơ bản, thiết yếu hiện có; quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức và xác định mức độ tự chủ tài chính của đơn vị này theo quy định của pháp luật.
Đại biểu Trần Thị Diệu Thúy cho biết, hiện nay, Thành phố Hồ Chí Minh đã thành lập 168 trung tâm cung ứng dịch vụ công tương ứng với 168 xã, phường, đặc khu. Tuy nhiên, nhiều đơn vị chưa đi vào hoạt động do chưa được bố trí cơ sở vật chất cũng như chưa nhận được sự đảm bảo về tài chính và các thiết chế văn hóa, cơ sở kế thừa hầu hết đạt chuẩn nhưng rải rác, không nằm tại trung tâm các xã, có nơi diện tích hẹp, xuống cấp, lực lượng nhân sự chủ yếu thực hiện công việc hành chính, thiếu nhân sự trực tiếp có chuyên môn nghiệp vụ văn hóa và thể dục, thể thao. Cơ chế tài chính hầu hết là tự chủ nhóm 2, nhóm 3, còn lại là nhóm 4, chỉ đáp ứng việc trả lương, không có nguồn thu để tái đầu tư. Việc xã hội hóa gặp khó khăn do thiếu khung pháp lý và địa vị pháp lý của các trung tâm cấp xã chưa rõ ràng.
Trong khi đó, các thiết chế văn hóa trước đây trực thuộc cấp huyện và cấp xã, như trung tâm văn hóa - thể thao, nhà thiếu nhi, nhà văn hóa phường, xã đều đã được sắp xếp lại, không còn chức năng, nhiệm vụ theo nhóm đối tượng. Đặc biệt, thiết chế nhà thiếu nhi cấp huyện trước đây đã chứng minh hiệu quả là nơi nuôi dưỡng, phát hiện, đào tạo, cung cấp nguồn nhân lực văn hóa, nghệ thuật cho thiếu nhi tại cơ sở, hiện cũng không còn chức năng hoạt động. Không gian sinh hoạt văn hóa cộng đồng thu hẹp, mục tiêu đời sống văn hóa tinh thần của Nhân dân được nâng cao và ít nhất 75% người dân vùng sâu, vùng xa được hưởng thụ văn hóa theo Nghị quyết 80 khó đạt được do thiết chế cơ sở bị thu hẹp, đặc biệt khó khăn ở vùng sâu, vùng xa khu trung tâm.
Để giải quyết vấn đề này và đảm bảo hài hòa việc tổ chức chính quyền địa phương 2 cấp, tiếp tục phát huy nguồn lực văn hóa cơ sở trước đây, đại biểu đề xuất bổ sung thêm 1 điều vào nghị quyết quy định thành lập đơn vị đa chức năng thay thế toàn bộ các thiết chế đã giải thể trước đây gồm trung tâm văn hóa, nhà thiếu nhi, điểm sinh hoạt phường, v.v... không còn tính vào định mức số lượng đơn vị sự nghiệp, quy định cụ thể cơ chế đơn vị sự nghiệp, trực thuộc đơn vị sự nghiệp.
Đồng thời, cần có giải pháp, mô hình quản trị mới đối với các đơn vị được sắp xếp đảm bảo tự chủ tài chính, tổ chức bộ máy cơ sở, phân hiệu, chi nhánh của từng nhóm đơn vị như mô hình trung tâm văn hóa thiếu nhi, văn hóa thể thao, bảo tàng trung tâm, bảo tàng vệ tinh, chính sách tài chính linh hoạt đối với những địa phương vùng khó khăn không thể có nguồn thu đảm bảo từ nguồn xã hội.
Đề xuất quy định tiêu chí suất đầu tư tối thiểu cho thiết chế văn hóa cơ sở ở cấp xã tính theo số dân, ít nhất 30.000-50.000 đồng/người/năm, đảm bảo ngân sách nhà nước để vận hành. Đối với xã, phường có diện tích tự nhiên vượt hơn 300% tiêu chuẩn, cho phép thành lập thêm không quá 2 điểm sinh hoạt văn hóa cộng đồng không phải là đơn vị sự nghiệp độc lập, đặt tại các khu dân cư xa trung tâm, giao tổ chức tự quản cộng đồng vận hành có hỗ trợ từ ngân sách cấp xã.
Thứ hai, về chính sách ưu đãi tại Điều 7: Khoản 2 Điều 7 của dự thảo cho phép đơn vị sự nghiệp công lập văn hóa tuyển dụng không qua thi tuyển đối với vận động viên, nghệ sĩ đạt huy chương, giải thưởng khu vực và quốc tế. Đại biểu đánh giá đây là chính sách tiến bộ. Tuy nhiên, thực tiễn phần lớn các đơn vị nghệ thuật biểu diễn, nhà hát nghệ thuật truyền thống trên cả nước đang được phân loại tự chủ tài chính loại 2. Khi thực hiện chính sách này, đơn vị không đảm bảo nguồn để chi trả lương, trong khi Nghị định 60 năm 2021 của Chính phủ không có điều khoản cấp ngân sách bổ sung đặc thù cho đơn vị khi thực hiện nhiệm vụ này. Quy định chính sách ưu đãi như vậy không có nguồn lực tài chính đảm bảo thực chi.
Do đó, đại biểu đề xuất bổ sung vào khoản 2 Điều 7 quy định cấp ngân sách bổ sung có mục tiêu cho đơn vị sự nghiệp văn hóa tự chủ loại 2, loại 1 khi tiếp nhận tài năng đặc cách. Khoản này không tính vào trần chi thường xuyên và không bị yêu cầu đối ứng từ nguồn thu đơn vị sự nghiệp.
Bảo đảm nguyên tắc bình đẳng trong đánh giá và sử dụng tài năng
Nêu ý kiến thảo luận, đại biểu Cà Thị Thắm (tỉnh Lai Châu) bày tỏ sự đồng tình với sự cần thiết ban hành Nghị quyết về phát triển văn hóa Việt Nam trong giai đoạn hiện nay, đồng thời tập trung phân tích 3 nhóm vấn đề cụ thể nhằm góp phần đưa nghị quyết đi vào thực tiễn.
Thứ nhất, về đãi ngộ đối với các danh hiệu văn hóa, nghệ thuật tại Điều 7: Đại biểu cho biết hiện nay Việt Nam có hệ thống danh hiệu cao quý như nghệ sĩ ưu tú, nghệ sĩ nhân dân, nghệ nhân ưu tú và nghệ nhân nhân dân với quy trình xét tặng ngày càng chặt chẽ. Tuy nhiên, cơ chế đãi ngộ chưa theo kịp, dẫn đến thực tế nhiều nghệ sĩ sau khi được phong tặng danh hiệu vẫn gặp khó khăn trong cuộc sống, đặc biệt khi không còn khả năng biểu diễn.Theo đại biểu, điều này tạo ra nghịch lý khi vinh dự xã hội rất cao nhưng đảm bảo đời sống chưa tương xứng. Trong khi đó, các ngành công nghiệp văn hóa hiện đã đóng góp khoảng 3 - 4% GDP và được xác định là động lực tăng trưởng mới.
Từ thực tiễn đó, đại biểu đề nghị bổ sung tại Điều 7 cơ chế phụ cấp nghề nghiệp đặc thù hằng tháng đối với các danh hiệu nghệ sĩ ưu tú, nghệ sĩ nhân dân được hưởng ổn định, độc lập kể cả khi đã nghỉ hưu. Đây không chỉ là chính sách đãi ngộ mà còn là thông điệp của Nhà nước về việc coi trọng giá trị văn hóa và con người sáng tạo.
Thứ hai, về chính sách phát triển tài năng, nhân lực đặc thù trong lĩnh vực văn hóa, thể thao tại Điều 7: Đại biểu cho rằng quy định tại khoản 2 Điều 7 cho phép đơn vị sự nghiệp công lập trong lĩnh vực văn hóa, thể thao áp dụng cơ chế tuyển dụng không qua thi tuyển đối với vận động viên, nghệ sĩ tài năng, du học sinh tốt nghiệp ở nước ngoài bằng ngân sách nhà nước, đã giành huy chương, giải thưởng khu vực và quốc tế là một chính sách tích cực.
Tuy nhiên, việc chỉ tập trung vào nhóm được đào tạo từ ngân sách nhà nước là chưa bao quát thực tiễn. Trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng, ngày càng nhiều học sinh, sinh viên theo học tại các cơ sở đào tạo nghệ thuật, thể thao danh tiếng trên thế giới bằng nguồn lực tự túc hoặc học bổng tư nhân, thậm chí vượt số lượng được cử đi bằng ngân sách nhà nước.
Đại biểu nhấn mạnh cần bảo đảm nguyên tắc bình đẳng trong đánh giá và sử dụng tài năng, bởi giá trị chuyên môn không phụ thuộc vào nguồn kinh phí đào tạo. Nếu chính sách chưa mở rộng, có thể bỏ lỡ nguồn nhân lực chất lượng cao và gây lãng phí chất xám, khi nhiều tài năng không được tạo điều kiện tham gia khu vực công lập do rào cản thủ tục hành chính.
Vì vậy, đại biểu đề nghị: Thứ nhất, lấy thành tích, giải thưởng và năng lực chuyên môn làm thước đo chủ yếu để tuyển dụng và sử dụng nhân lực. Thứ hai, cho phép xét tuyển đặc cách đối với các tài năng không phân biệt nguồn kinh phí đào tạo, với điều kiện đáp ứng tiêu chuẩn chuyên môn cao và bảo đảm tính minh bạch.
Về Ngày Văn hóa Việt Nam tại Điều 2: Đại biểu thống nhất cao với việc lựa chọn ngày 24/11 hằng năm là Ngày Văn hóa Việt Nam và quy định người lao động được nghỉ làm việc, hưởng nguyên lương trong ngày này.
Theo đại biểu, đây là chính sách có ý nghĩa sâu sắc, góp phần tôn vinh các giá trị văn hóa dân tộc và tạo điều kiện để người dân tham gia, hưởng thụ các hoạt động văn hóa, thể thao.
Để tăng tính lan tỏa, đại biểu đề nghị có cơ chế khuyến khích mạnh mẽ hơn trong việc tiếp cận các thiết chế văn hóa, thể thao công lập. Cụ thể, trong ngày nghỉ này, người dân khi tham gia sử dụng dịch vụ tại các cơ sở văn hóa, thể thao công lập nên được miễn phí toàn bộ lệ phí dịch vụ.
Do đó, đại biểu đề nghị điều chỉnh theo hướng quy định thống nhất miễn phí toàn bộ lệ phí tham quan đối với các dịch vụ tại cơ sở văn hóa, thể thao công lập trong Ngày Văn hóa Việt Nam, nhằm đảm bảo tính đồng bộ, dễ thực hiện và tạo sức lan tỏa mạnh mẽ, khuyến khích người dân tham gia rộng rãi và bình đẳng.
Đại biểu Cà Thị Thắm nhấn mạnh chính sách văn hóa chỉ thực sự thành công khi chạm đến đời sống của nghệ sĩ và cộng đồng, đặc biệt là những người và những nơi còn khó khăn, qua đó văn hóa không chỉ là lĩnh vực đầu tư mà còn trở thành động lực nội sinh nuôi dưỡng bản sắc và sức mạnh bền vững của quốc gia.