Bảo tồn và phát triển văn hóa các dân tộc thiểu số gắn với phát triển du lịch cộng đồng, dịch vụ văn hóa và tạo sinh kế bền vững cho người dân

Góp ý vào dự thảo Nghị quyết của Quốc hội về phát triển văn hóa Việt Nam, đại biểu Quốc hội Hoàng Ngọc Định cho rằng, muốn bảo tồn hiệu quả thì phải giữ được con người và môi trường thực hành văn hóa, muốn phát huy giá trị thì phải gắn văn hóa với đời sống và kinh tế.

dai-bieu-dak-laks-1776918539.jpg
Đại biểu Y Bhen Kđoh - Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Đắk Lắk

Cần quan tâm đến chính sách đãi ngộ nghệ nhân gắn với an sinh và sinh kế

Góp ý vào dự thảo Nghị quyết của Quốc hội về phát triển văn hóa Việt Nam, đại biểu Y Bhen Kđoh - Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Đắk Lắk - bày tỏ nhất trí cao với sự cần thiết ban hành Nghị quyết về phát triển văn hóa Việt Nam.

Qua nghiên cứu dự thảo Nghị quyết, đại biểu đóng góp một số nội dung cụ thể nhằm đảm bảo tính khả thi và bền vững của chính sách như sau:

Thứ nhất, tại Điều 7: Nên làm rõ hơn quyền lợi và trách nhiệm của các nghệ nhân ưu tú, nghệ nhân nhân dân trong việc truyền dạy di sản, không chỉ dừng lại ở hỗ trợ kinh phí. Đại biểu, đề nghị cơ quan soạn thảo cần bổ sung, Chính phủ quy định chi tiết tại khoản 5 Điều 7. Trong dự thảo chỉ nêu Chính phủ quy định chi tiết khoản 2, 3 và 4.

Bên cạnh đó, cần quan tâm đến chính sách đãi ngộ nghệ nhân gắn với an sinh và sinh kế. Thực tế cho thấy, nhiều nghệ nhân rất tâm huyết nhưng đời sống còn gặp nhiều khó khăn, nếu không có điều kiện sống ổn định, họ không thể toàn tâm, toàn ý cho việc truyền dạy và giữ lửa văn hóa. Vì vậy, chính sách đãi ngộ nghệ nhân không chỉ dừng lại ở trợ cấp tài chính mà cần ưu tiên hỗ trợ các tư liệu sản xuất, các chương trình hỗ trợ sinh kế đặc thù cho nghệ nhân tại các vùng khó khăn. Như người dân vẫn thường nói "muốn giữ tiếng chiêng ngân, phải giữ được cái bụng ấm". Bảo tồn văn hóa phải bắt đầu từ việc bảo đảm đời sống cho chủ thể sáng tạo ra văn hóa đó.

Thứ hai, tại Điều 8, đại biểu đề nghị cơ quan soạn thảo bổ sung chính sách ưu tiên đầu tư phát triển hệ thống thiết chế văn hóa và không gian sáng tạo văn hóa cho các tỉnh vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, biên giới, hải đảo, bảo đảm phát triển đồng bộ, hiện đại, đa chức năng, trong đó có thiết chế quy mô phù hợp để tổ chức đăng cai các nhiệm vụ, sự kiện cấp quốc gia và quốc tế. Đồng thời, cần nhấn mạnh yếu tố để đổi mới sáng tạo và cơ chế đột phá trong tổ chức, vận hành và khai thác các thiết chế văn hóa theo hướng hình thành sinh thái sáng tạo, thúc đẩy khởi nghiệp sản xuất và phân phối sản phẩm, dịch vụ văn hóa. Qua đó, góp phần phát triển công nghiệp văn hóa, nâng cao giá trị gia tăng và năng lực cạnh tranh của văn hóa Việt Nam gắn với bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc.

Thứ ba, tại khoản 1 Điều 7, về chính sách đãi ngộ phát triển tài năng văn hóa, thể thao, đại biểu đề nghị cơ quan soạn thảo bổ sung nội dung đặc cách không áp dụng giảm 10% biên chế hằng năm đối với các đoàn nghệ thuật chuyên nghiệp, cho phép các đơn vị chủ động tuyển dụng nhân tài theo vị trí việc làm đặc thù, đồng thời thực hiện tinh giản đối với bộ phận hành chính gián tiếp để dồn chỉ tiêu cho bộ phận chuyên môn trực tiếp; xây dựng cơ chế hợp đồng dài hạn đối với các tài năng hiếm có, nghệ nhân ưu tú mà không phụ thuộc hoàn toàn vào chỉ tiêu biên chế cứng của viên chức trong đơn vị nghệ thuật. Mặt khác, đề nghị cơ quan soạn thảo làm rõ tiêu chí xác định tài năng chuyên gia để áp dụng cơ chế đặc thù, quy định chặt chẽ việc tuyển dụng không qua thi tuyển để đảm bảo phù hợp với pháp luật về cán bộ, công chức, viên chức và đảm bảo công khai, minh bạch trong quá trình thực hiện.

Thứ tư, tại Điều 10 về chuyển đổi số, đại biểu cho rằng, cần nhấn mạnh hơn cơ chế thực thi bảo vệ bản quyền tự động trên môi trường số, vì đây là xương sống của công nghiệp văn hóa. Tại khoản 3 Điều 10 có đề cập bảo vệ bản quyền sở hữu trí tuệ trên môi trường số, đại biểu đề nghị Chính phủ cần quy định thật kỹ nội dung này, vì trong thực tế rất nhiều vấn đề phức tạp, tranh chấp liên quan đến bản quyền sản phẩm văn hóa, nhất là trên môi trường số vì xác định đây là xương sống của công nghiệp văn hóa.

"Ngoài ra, tôi đề nghị cần xem xét về độ tuổi của những người làm trong lĩnh vực này. Đặc biệt đây là một điểm rất đặc thù, không thể để những diễn viên múa được hưởng lương thâm niên vượt cung, đây là một câu chuyện đáng bàn", đại biểu nêu ý kiến.

dai-bieu-tuyen-quang-1776918578.jpg
Đại biểu Hoàng Ngọc Định - Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Tuyên Quang

Ưu tiên bảo tồn và phát triển văn hóa các dân tộc thiểu số

Nêu ý kiến thảo luận, đại biểu Hoàng Ngọc Định - Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Tuyên Quang - bày tỏ thống nhất cao với sự cần thiết ban hành Nghị quyết của Quốc hội về phát triển văn hóa Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.

Quan tâm đến Điều 6 của dự thảo, liên quan đến cơ chế, chính sách bảo tồn và phát huy văn hóa các dân tộc thiểu số, nghệ thuật dân gian, nghệ thuật truyền thống, đại biểu cho biết Nghị quyết số 162 đã xác lập đầy đủ mục tiêu, nhiệm vụ và nguồn lực cho đầu tư hệ thống thiết chế hạ tầng văn hóa và tổ chức triển khai trên thực tế. Vấn đề đặt ra hiện nay không phải thiếu thiết chế mà là cơ chế để các thiết chế đó vận hành hiệu quả, có hoạt động thực chất và gắn với cộng đồng. Ý nghĩa của nghị quyết lần này là tạo ra cơ chế, chính sách để văn hóa không chỉ tồn tại về mặt hình thức mà thực sự được duy trì trong đời sống thông qua con người, thông qua hoạt động thực hành gắn với sinh kế.

Theo đại biểu Hoàng Ngọc Định, Tuyên Quang là địa bàn có nhiều dân tộc sinh sống, có bề dày văn hóa dân tộc phong phú, đa dạng, du khách đến với Tuyên Quang không chỉ ngắm cảnh, điều níu chân du khách quốc tế và du khách trong nước chính là không gian văn hóa hiện thực: Tiếng khèn mông giữa phiên chợ, điệu then, tiếng đàn tính của đồng bào Tày trong sinh hoạt cộng đồng, nhảy lửa của đồng bào Pà Thẻn, trang phục truyền thống của cô gái Lô Lô nơi cực Bắc, kiến trúc nhà ở, nếp sinh hoạt, phong tục tập quán ẩm thực, lễ hội và đời sống văn hóa của đồng bào. Nói cách khác, du khách đến không phải để xem một nền văn hóa được trưng bày mà để trải nghiệm một nền văn hóa đang tồn tại và được thực hành trong đời sống cộng đồng.

Thực tiễn cho thấy, nơi nào giữ được bản sắc văn hóa nơi đó phát triển du lịch bền vững hơn, nơi nào còn gìn giữ và phát huy được văn hóa trong cộng đồng nơi đó có sức hấp dẫn riêng và tạo được sinh kế cho người dân. Tuy nhiên, hiện nay công tác bảo tồn và phát triển văn hóa các dân tộc thiểu số và văn hóa dân gian phần đang tồn tại trong cộng đồng thể hiện qua ngôn ngữ, phong tục, tập quán và sinh hoạt đời thường, trong đó nghệ thuật dân gian là một phần quan trọng được thực hành và truyền dạy trực tiếp trong cộng đồng đang đứng trước nguy cơ mai một. Tiếng nói, chữ viết của một số dân tộc dần ít người sử dụng, đội ngũ nghệ nhân ngày càng cao tuổi, việc truyền dạy trong cộng đồng chưa có cơ chế ổn định.

Bên cạnh đó, nhiều thiết chế văn hóa cơ sở tuy đã được đầu tư nhưng hoạt động chưa thường xuyên, thiếu nội dung sinh hoạt, thiếu cơ chế vận hành, chưa thực sự trở thành không gian sinh hoạt, truyền dạy, luyện tập, trình diễn và nuôi dưỡng đời sống văn hóa cộng đồng. Vì vậy, cần có các giải pháp đồng bộ, trong đó trọng tâm là xây dựng chính sách hỗ trợ hoạt động truyền dạy, thực hành các loại hình văn hóa, nghệ thuật dân gian truyền thống, bảo đảm việc trao, truyền được thực hiện thuận lợi, liên tục và hiệu quả.

Từ thực tiễn địa phương và các phân tích nêu trên, đại biểu đề nghị Điều 6 cần được làm rõ hơn theo hướng cụ thể như sau:

Thứ nhất, bổ sung ưu tiên bảo tồn và phát triển văn hóa các dân tộc thiểu số, nhất là tiếng nói, chữ viết và các giá trị văn hóa truyền thống đặc trưng.

Thứ hai, bổ sung Nhà nước có chính sách hỗ trợ hoạt động truyền dạy, thực hành các loại hình nghệ thuật dân gian, nghệ thuật truyền thống tại cộng đồng, hỗ trợ nghệ nhân, người thực hành và người truyền dạy di sản trong việc truyền dạy cho thế hệ trẻ. Đây là nội dung có ý nghĩa quyết định để bảo đảm tính liên tục của văn hóa.

Thứ ba, về cơ chế vận hành thiết chế văn hóa cơ sở, đại biểu đặc biệt quan tâm đến quy định tại khoản 5 Điều 4 về việc giao cộng đồng quản lý thiết chế văn hóa cơ sở. Đây là chủ trương đúng, tuy nhiên cần làm rõ cơ chế, thiết chế thực sự hoạt động hiệu quả. Thực tiễn cho thấy, thiết chế chỉ phát huy khi có hoạt động thường xuyên, có người tổ chức và gắn với nhu cầu sinh hoạt của cộng đồng. Vì vậy, đại biểu đề nghị bổ sung và liên thông với Điều 6, thiết chế văn hóa cơ sở là không gian sinh hoạt, thực hành và truyền dạy văn hóa trong cộng đồng, khuyến khích giao cộng đồng dân cư trực tiếp tham gia quản lý, vận hành. Chính phủ quy định cụ thể cơ chế giao, hỗ trợ hoạt động, trách nhiệm quản lý và giám sát thực hiện.

Thứ tư, bổ sung bảo tồn và phát triển văn hóa các dân tộc thiểu số gắn với phát triển du lịch cộng đồng, dịch vụ văn hóa và tạo sinh kế bền vững cho người dân. Chỉ khi người dân có thu nhập từ hoạt động văn hóa, họ sẽ chủ động gìn giữ và phát huy giá trị văn hóa.

"Từ thực tiễn địa phương, chúng tôi nhận thức rõ muốn bảo tồn hiệu quả thì phải giữ được con người và môi trường thực hành văn hóa, muốn phát huy giá trị thì phải gắn văn hóa với đời sống và kinh tế. Tôi đề nghị cơ quan soạn thảo tiếp tục rà soát, hoàn thiện Điều 6 theo hướng cụ thể, khả thi để khi nghị quyết được thông qua triển khai hiệu quả trong thực tiễn, nhất là tại các tỉnh miền núi, vùng đồng bào các dân tộc thiểu số", đại biểu Hoàng Ngọc Định nêu ý kiến.

X.T