
Thừa ủy quyền của Thủ tướng Chính phủ trình bày tờ trình tóm tắt về dự án Luật Phát triển công nghiệp văn hóa, Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Lâm Thị Phương Thanh cho biết, việc xây dựng Luật nhằm kịp thời thể chế hóa các chủ trương của Đảng về phát triển công nghiệp văn hóa và các kết luận, chỉ đạo có liên quan.
Đồng thời, hoàn thiện hành lang pháp lý, khắc phục những khoảng trống, điểm nghẽn, đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số, hội nhập quốc tế và phát triển kinh tế - xã hội trong giai đoạn mới.
Theo Bộ trưởng, Việt Nam có nhiều tiềm năng, lợi thế để phát triển công nghiệp văn hóa, nhưng kết quả đạt được chưa tương xứng; chuỗi liên kết từ sáng tạo, sản xuất, phân phối đến tiêu dùng còn hạn chế; cơ chế, chính sách hỗ trợ phát triển thị trường, huy động nguồn lực và nâng cao năng lực cạnh tranh chưa đồng bộ.
Việc ban hành Luật Phát triển công nghiệp văn hóa là cần thiết nhằm hoàn thiện khung pháp lý, khơi thông nguồn lực, thúc đẩy sáng tạo, phát triển thị trường và đưa công nghiệp văn hóa trở thành một động lực tăng trưởng của đất nước.
6 quan điểm xuyên suốt
Dự thảo Luật được xây dựng trên 6 quan điểm xuyên suốt nhằm xác định các cơ chế, chính sách then chốt để tạo khung khổ pháp lý cho thúc đẩy phát triển công nghiệp văn hóa.
Một là, tiếp cận công nghiệp văn hóa là chuỗi giá trị để thúc đẩy phát triển từ góc độ phát triển một ngành kinh tế chiến lược; hạn chế tối đa việc phát sinh thủ tục hành chính mới, đẩy mạnh số hóa và tăng cường hậu kiểm.
Hai là, không quy định lại những chính sách mà các luật chuyên ngành và các luật khác đã quy định.
Ba là, ưu tiên làm rõ những “điểm mờ” mà các luật chuyên ngành chưa cụ thể hóa, đặc biệt là trong khâu tổ chức thực thi.
Bốn là, ưu tiên bổ sung quy định đối với những “khoảng trống” pháp luật hiện hành chưa điều chỉnh hoặc chưa có cơ chế đủ rõ.
Năm là, lựa chọn có trọng tâm, trọng điểm những “điểm nghẽn” đã được nhận diện rõ trong các quy định pháp luật hiện hành để đề xuất cơ chế, chính sách đặc thù thuộc thẩm quyền quyết định của Quốc hội.
Sáu là, Luật quy định các nguyên tắc và những cơ chế, chính sách then chốt thuộc phạm vi điều chỉnh ở tầm luật để tạo khung khổ pháp lý cho thúc đẩy phát triển công nghiệp văn hóa. Luật ngắn gọn nhưng không đưa quá nhiều nội dung xuống văn bản quy định chi tiết, tạo điểm nghẽn ở văn bản dưới luật.

7 nhóm nội dung chính
Về bố cục và các nội dung cơ bản, Bộ trưởng Lâm Thị Phương Thanh cho biết, dự thảo Luật Phát triển công nghiệp văn hóa bao gồm 9 chương và 53 điều quy định 7 nhóm nội dung chính.
Thứ nhất, phát triển hệ sinh thái công nghiệp văn hóa.
Dự thảo Luật quy định 4 nhóm nội dung chính, gồm: cơ chế pháp lý để phát triển và sử dụng Bộ công cụ sáng tạo trong các ngành công nghiệp văn hóa; các chủ thể tham gia và hoạt động hỗ trợ hệ sinh thái công nghiệp văn hóa; các hoạt động hỗ trợ về thông tin, chuỗi giá trị, sở hữu trí tuệ, định giá tài sản trí tuệ, chuyển đổi số và xây dựng thương hiệu quốc gia về công nghiệp văn hóa; thử nghiệm, ứng dụng khoa học, công nghệ và triển khai sản phẩm, dịch vụ, mô hình kinh doanh mới trong công nghiệp văn hóa.
Thứ hai, tài sản trí tuệ trong các ngành công nghiệp văn hóa.
Dự thảo Luật quy định 04 nhóm nội dung chính, gồm: mã định danh tài sản trí tuệ trong các ngành công nghiệp văn hóa; hồ sơ tài sản trí tuệ trong các ngành công nghiệp văn hóa; công cụ hỗ trợ xác thực chủ thể, kết nối dữ liệu, đăng ký quyền sở hữu trí tuệ và lập hồ sơ; các biện pháp nâng cao năng lực định giá tài sản trí tuệ.
Thứ ba, nhân lực công nghiệp văn hóa.
Dự thảo Luật quy định 4 nhóm nội dung chính, gồm: Khung năng lực trong các ngành công nghiệp văn hóa; chính sách phát huy nghệ sĩ, nghệ nhân, chuyên gia, nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục trong các ngành công nghiệp văn hóa; hỗ trợ học bổng, miễn, giảm học phí và tín dụng chính sách đối với người học các ngành, nghề ưu tiên về công nghiệp văn hóa; thu hút, trọng dụng nhân lực chất lượng cao và nhân tài công nghiệp văn hóa.
Thứ tư, hạ tầng công nghiệp văn hóa.
Dự thảo Luật quy định 6 nhóm nội dung chính, gồm: công trình phục vụ công nghiệp văn hóa; tổ hợp sáng tạo văn hóa; cơ chế hình thành, tổ chức hoạt động của cụm, khu công nghiệp sáng tạo văn hóa; sử dụng không gian công cộng cho hoạt động công nghiệp văn hóa; hoạt động công nghiệp văn hóa trong các dự án đầu tư xây dựng; phát triển hạ tầng văn hóa số.
Thứ năm, thị trường công nghiệp văn hóa.
Dự thảo Luật quy định 05 nhóm nội dung chính, gồm: tiêu chí xác lập sản phẩm công nghiệp văn hóa có bản sắc Việt Nam; xác lập tài sản trí tuệ gốc trọng điểm, sản phẩm công nghiệp văn hóa trọng điểm; hỗ trợ nâng cao năng lực cho doanh nghiệp công nghiệp văn hóa; các nội dung nền tảng để xác lập và vận hành Sàn giao dịch công nghiệp văn hóa; chính sách thúc đẩy tiêu dùng như Thẻ văn hóa quốc gia và chương trình kích cầu tiêu dùng.
Thứ sáu, tài chính và hỗ trợ, ưu đãi đầu tư.
Dự thảo Luật quy định 4 nhóm nội dung chính, gồm: nguồn tài chính cho phát triển công nghiệp văn hóa, theo hướng không thành lập quỹ mới, tiếp tục sử dụng các nguồn kinh phí hiện hành; chính sách hỗ trợ, ưu đãi đầu tư phát triển hạ tầng và sản phẩm công nghiệp văn hóa; chính sách hoàn thuế giá trị gia tăng đối với tổ chức, cá nhân nước ngoài đến quay phim tại Việt Nam; miễn thuế thu nhập cá nhân trong 5 năm đối với nhân lực công nghiệp văn hóa chất lượng cao.
Thứ bảy, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính, nội dung phân quyền, phân cấp.
Thực hiện quy định của Luật Tổ chức Quốc hội, dự thảo Luật không trực tiếp quy định các thủ tục hành chính; giao trực tiếp các nội dung thuộc thẩm quyền của Chính phủ, các bộ, ngành; tăng cường phân cấp cho địa phương quy định cụ thể các chính sách được quy định tại dự thảo Luật bảo đảm có thể triển khai ngay trên thực tế đồng bộ, thống nhất và hiệu quả.
Bộ trưởng cho biết, thời gian dự kiến trình Quốc hội xem xét dự án Luật Phát triển công nghiệp văn hóa tại Kỳ họp thứ 2 Quốc hội khóa XVI (tháng 10/2026).
Hồ sơ dự án Luật được chuẩn bị đầy đủ, đúng trình tự, thủ tục theo quy định
Báo cáo thẩm tra sơ bộ dự án Luật Phát triển công nghiệp văn hóa, Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội Nguyễn Đắc Vinh cho biết, Thường trực Ủy ban tán thành sự cần thiết ban hành Luật. Hồ sơ dự án Luật được chuẩn bị đầy đủ, đúng trình tự, thủ tục theo quy định.
Dự thảo Luật phù hợp với chủ trương, đường lối của Đảng, bảo đảm yêu cầu về quốc phòng, an ninh, phù hợp với Hiến pháp; cơ bản bảo đảm tính tương thích với các điều ước quốc tế có liên quan.
Tuy nhiên, đây là dự án Luật được xây dựng mới, xác lập nhiều nội dung, cơ chế, chính sách đặc thù, Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa và Xã hội đề nghị cơ quan chủ trì soạn thảo tiếp tục rà soát, bảo đảm tính thống nhất của hệ thống pháp luật.

Thường trực Ủy ban đề nghị tuân thủ nguyên tắc: Luật chỉ quy định những vấn đề có tính nguyên tắc, thuộc thẩm quyền của Quốc hội; không quy định lại những chính sách đã được các luật chuyên ngành, luật khác quy định; đánh giá cụ thể hơn tác động, tính khả thi của các quy định, chính sách mới; các chính sách ưu đãi, hỗ trợ của Nhà nước.
Tiếp tục rà soát các quy định về phân quyền, phân cấp. Những nội dung có phạm vi điều chỉnh trong cả nước, có yếu tố quốc tế cần giao Chính phủ và các Bộ quy định; chỉ phân quyền, phân cấp cho địa phương các nội dung phù hợp, khả thi.
Về phạm vi điều chỉnh, đối tượng áp dụng, Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa và Xã hội cho biết, Thường trực Ủy ban cơ bản nhất trí với phạm vi điều chỉnh, đối tượng áp dụng của dự thảo Luật.
Đề nghị tiếp tục rà soát, xác định rõ đối tượng áp dụng trong nước và ngoài nước, nhất là các chủ thể nước ngoài hoạt động tại Việt Nam, cung cấp sản phẩm, dịch vụ công nghiệp văn hóa vào thị trường Việt Nam, hoạt động qua nền tảng số xuyên biên giới hoặc khai thác “tài sản trí tuệ” thuộc phạm vi bảo hộ tại Việt Nam.
Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội Nguyễn Đắc Vinh cho biết, Hồ sơ dự án Luật đủ điều kiện trình Quốc hội xem xét tại Kỳ họp thứ 2 sau khi cơ quan chủ trì soạn thảo nghiên cứu tiếp thu và giải trình đầy đủ các nội dung theo ý kiến thẩm tra tại Báo cáo này, ý kiến tham gia thẩm tra của các cơ quan của Quốc hội và ý kiến của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Thường trực Ủy ban nhận thấy, đây là dự án Luật mới, còn nhiều ý kiến khác nhau, cần thời gian để nghiên cứu, tiếp thu kỹ lưỡng; đề nghị xem xét, thông qua tại Kỳ họp thứ 3, Quốc hội khóa XVI.