Khắc phục những “khoảng trống”, đưa di sản trở thành nguồn lực phát triển

Chiều 19/8, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm chủ trì buổi làm việc với Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch cùng các cơ quan liên quan về công tác bảo tồn, bảo tàng trong thời gian tới.

tbt-to-lam-pvbn-1787142176.jpg
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm phát biểu chỉ đạo tại buổi làm việc

Tham dự buổi làm việc có Bí thư Trung ương Đảng, Phó Thủ tướng Chính phủ Phạm Thị Thanh Trà; Ủy viên BCH Trung ương Đảng, Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Hồng; lãnh đạo các ban, bộ, ngành Trung ương và lãnh đạo một số bảo tàng.

Về phía Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch có Ủy viên BCH Trung ương Đảng, Bộ trưởng Lâm Thị Phương Thanh; Ủy viên dự khuyết BCH Trung ương Đảng, Thứ trưởng Nguyễn Huy Dũng; các Thứ trưởng Trịnh Thị Thủy, Tạ Quang Đông, Hoàng Đạo Cương, Phan Tâm, Hồ An Phong cùng đại diện lãnh đạo các đơn vị thuộc Bộ.

Nguồn lực di sản phong phú, vị thế ngày càng được khẳng định

Báo cáo tại buổi làm việc, Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Lâm Thị Phương Thanh cho biết, hiện cả nước có 40.000 di tích và gần 70.000 di sản văn hóa phi vật thể được kiểm kê. Trong đó, 37 di sản được UNESCO ghi danh, 149 di tích quốc gia đặc biệt, 3.688 di tích quốc gia, 735 di sản văn hóa phi vật thể trong Danh mục quốc gia và 357 hiện vật, nhóm hiện vật được công nhận là Bảo vật quốc gia.

Cả nước hiện có hơn 20.060 di vật, cổ vật đăng ký và 177 bảo tàng lưu giữ, trưng bày trên 4 triệu tài liệu, hiện vật. Đội ngũ nghệ nhân gồm 131 Nghệ nhân Nhân dân và 1.507 Nghệ nhân Ưu tú.

Việt Nam đã tham gia 3 Công ước về bảo vệ di sản văn hóa, một Chương trình của UNESCO và giữ vai trò chủ chốt tại một số cơ chế của UNESCO về di sản. Việt Nam cũng là một trong hai quốc gia dẫn đầu Đông Nam Á về số lượng di sản thế giới được UNESCO công nhận, ghi danh ở các lĩnh vực về di sản văn hóa.

Theo Bộ trưởng Lâm Thị Phương Thanh, công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế về bảo tồn di sản được quan tâm từ rất sớm. Năm 1945, ngay sau Cách mạng Tháng Tám thành công, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số 65 về bảo tồn cổ tích trên toàn cõi Việt Nam.

Năm 2001, Quốc hội khóa X thông qua Luật Di sản văn hóa, được sửa đổi năm 2009. Đến năm 2024, Quốc hội thông qua Luật Di sản văn hóa, tạo khuôn khổ pháp lý toàn diện cho công tác bảo vệ, phát huy giá trị di sản văn hóa trong giai đoạn phát triển mới của đất nước. Đến nay, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực di sản văn hóa đã cơ bản hoàn thiện, dù vẫn còn một số vấn đề cần tiếp tục tháo gỡ.

Trong công tác bảo tồn và phát huy giá trị di tích, hoạt động đầu tư, tu bổ, tôn tạo ngày càng được quan tâm. Nhiều di tích duy trì tình trạng kỹ thuật tốt, giữ được giá trị lịch sử, kiến trúc, nghệ thuật. Nhiều di tích, danh lam thắng cảnh sau khi được xếp hạng, ghi danh đã trở thành điểm thu hút du lịch, tạo sinh kế, thu nhập và việc làm cho người dân địa phương.

Việc kết hợp di sản văn hóa phi vật thể, làng nghề, nghệ thuật biểu diễn truyền thống với các khu di sản thế giới góp phần tăng sức hấp dẫn của du lịch. Tràng An, Hội An, Cố đô Huế đã trở thành những thương hiệu du lịch nổi bật của Việt Nam.

Công tác bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể được triển khai phù hợp với đặc thù từng loại hình, ngày càng gắn với phát triển du lịch, công nghiệp văn hóa và sinh kế cộng đồng; đồng thời chú trọng bảo đảm quyền thực hành văn hóa, hỗ trợ điều kiện thực hành, truyền dạy và hoạt động của các câu lạc bộ, nhóm thực hành. Hoạt động truyền dạy cũng được chú trọng tại cộng đồng, trường học, thiết chế văn hóa và các cơ sở đào tạo.

Đối với di sản tư liệu, Việt Nam tham gia Chương trình Ký ức thế giới của UNESCO từ năm 2007. Di sản tư liệu chính thức được quy định trong Luật Di sản văn hóa năm 2024. Đến nay, 3 tỉnh, thành phố đã công bố danh mục kiểm kê di sản tư liệu; Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã tham mưu trình Thủ tướng để gửi UNESCO đề nghị ghi danh 3 di sản vào các danh mục di sản tư liệu khu vực và thế giới.

Từ năm 2015 đến nay, các địa phương, tổ chức, cá nhân ngày càng quan tâm đến bảo vệ, trưng bày di vật, cổ vật và Bảo vật quốc gia. Các cơ quan, tổ chức nhà nước đã tiếp nhận 934 di vật, cổ vật và tác phẩm nghệ thuật có nguồn gốc Việt Nam từ nước ngoài về nước.

Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đang phối hợp với Bộ Ngoại giao, Bộ Công an hoàn thiện thủ tục đưa Trống đồng Đông Sơn tại Bảo tàng Pháp về nước. Nghị quyết số 80 của Bộ Chính trị và Nghị quyết 28 của Quốc hội vừa ban hành cũng tạo bước đột phá cho công tác bảo vệ, phát huy giá trị di vật, cổ vật và Bảo vật quốc gia.

Hệ thống bảo tàng Việt Nam từ một vài bảo tàng ban đầu do Pháp xây dựng đầu thế kỷ XX, đến trước tháng 7/2025 có 204 bảo tàng. Sau khi sắp xếp địa giới hành chính cấp tỉnh, cả nước còn 177 bảo tàng, gồm 94 bảo tàng công lập và 83 bảo tàng ngoài công lập.

Các bảo tàng ngày càng phong phú về loại hình chuyên ngành; nhiều nơi chú trọng đổi mới nội dung, hình thức trưng bày, số hóa, ứng dụng khoa học công nghệ để nâng cao hiệu quả hoạt động, thu hút sự quan tâm của nhân dân và khách quốc tế.

Hiện tổng số công chức, viên chức, người lao động tại 111 ban quản lý di tích, các bảo tàng công lập và các Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch trên cả nước khoảng 6.500 người. Nhìn chung, nhân lực trong lĩnh vực di sản văn hóa tâm huyết, yêu nghề, trách nhiệm trong quản lý, bảo vệ và phát huy giá trị di sản.

Giai đoạn 2021-2025, Bộ đã triển khai các hệ thống thông tin quản lý di sản; hoàn thành số hóa 100% hồ sơ di sản văn hóa được công nhận, ghi danh, xếp hạng cấp quốc gia và di sản văn hóa thế giới từ năm 1962 đến nay; đồng thời số hóa 3 di tích quốc gia đặc biệt và 100 Bảo vật quốc gia. Giai đoạn 2026-2030 sẽ hoàn thành tích hợp nền tảng quản lý cơ sở dữ liệu quốc gia về di sản văn hóa.

Công tác quản lý Nhà nước và hợp tác quốc tế cũng được tăng cường. Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch phối hợp với các ban, bộ, ngành, địa phương, Hội đồng Di sản văn hóa quốc gia, Ủy ban Quốc gia UNESCO Việt Nam trong xây dựng pháp luật, lập hồ sơ di sản, thẩm định quy hoạch, xây dựng tiêu chuẩn, bảo vệ di sản, ngăn chặn hành vi xâm hại, đưa cổ vật về nước và giáo dục truyền thống thông qua di sản.

Việt Nam đồng thời hợp tác với UNESCO và các tổ chức tư vấn quốc tế trong đánh giá, xây dựng hồ sơ, bảo tồn khẩn cấp, trao đổi chuyên gia, đào tạo nhân lực, nghiên cứu, trưng bày và giới thiệu di sản; cử cán bộ đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn, ngoại ngữ tại một số quốc gia có nền bảo tồn, bảo tàng phát triển.

198-tbt-toan-canh-ckwz-1787142176.jpg
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm làm việc với Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch về công tác bảo tồn, bảo tàng vào chiều 19/8 ↵

Khắc phục những “khoảng trống”, đưa di sản trở thành nguồn lực phát triển

Bộ trưởng Lâm Thị Phương Thanh khẳng định, công tác bảo tồn, bảo tàng và phát huy giá trị di sản văn hóa nhận được sự quan tâm rất lớn của Đảng, Nhà nước; hệ thống pháp luật cơ bản hoàn thiện; nhận thức xã hội và sự tham gia của cộng đồng ngày càng được nâng lên; phân cấp, phân quyền được đẩy mạnh, tạo sự chủ động cho địa phương.

Tuy nhiên, nhiều nơi vẫn lúng túng trong xử lý hài hòa mối quan hệ giữa bảo tồn và phát triển, giữa phát triển kinh tế với bảo tồn di sản văn hóa, danh lam thắng cảnh, giữa lợi ích trước mắt và phát triển bền vững.

Nhiều di sản văn hóa phi vật thể chưa có thế hệ nghệ nhân kế cận trong khi nghệ nhân tuổi đã cao, dẫn tới nguy cơ mai một, thất truyền. Công tác kiểm kê, sưu tầm, tư liệu hóa và lập hồ sơ khoa học di sản văn hóa phi vật thể ở một số địa phương chưa thực sự được quan tâm. Việc số hóa phục vụ các hệ thống thông tin, quản lý cơ sở dữ liệu quốc gia còn chậm; nguồn nhân lực bảo tồn, bảo tàng chưa đáp ứng yêu cầu thực tiễn, thiếu chuyên gia trình độ cao.

Bộ trưởng nhấn mạnh, trong giai đoạn phát triển mới của đất nước, nhằm sớm khắc phục 4 khoảng trống trong phát triển văn hóa, đưa văn hóa thực sự trở thành nền tảng tinh thần, sức mạnh nội sinh và động lực phát triển đất nước như Tổng Bí thư, Chủ tịch nước đã chỉ rõ, công tác bảo tồn, bảo tàng cần tập trung thực hiện một số nhiệm vụ trọng tâm.

Trước hết, cần rà soát tổng thể hệ thống di sản, di tích, bảo tàng, thiết chế văn hóa lớn và các công trình, dự án liên quan; tập trung khắc phục hạn chế, vướng mắc, bất cập, sai sót trong quản lý và tổ chức thực hiện. Việc bảo tồn phải có trọng tâm, trọng điểm, đúng định hướng, gắn với mục tiêu phát triển của địa phương và đất nước, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác bảo tồn, bảo tàng, xây dựng và phát huy các giá trị văn hóa vật thể, phi vật thể.

Cùng với đó là đẩy nhanh chuẩn hóa, số hóa, đồng bộ hóa cơ sở dữ liệu văn hóa số quốc gia; ứng dụng khoa học công nghệ để quản lý các công trình, di tích, di sản khoa học, hiệu quả, đầy đủ và bền vững; bảo đảm năng lực bảo vệ chủ quyền văn hóa quốc gia trên môi trường số cả trước mắt và lâu dài.

Cần có chính sách, giải pháp phát huy hiệu quả các giá trị văn hóa gắn với phát triển công nghiệp văn hóa, mang lại giá trị kinh tế, đóng góp vào sự phát triển nhanh và bền vững của đất nước.

Một nhiệm vụ khác là nghiên cứu, bổ sung những cơ sở dữ liệu, hiện vật còn thiếu; lựa chọn, xây dựng, phát triển, bổ sung những giá trị mới để tiếp tục làm giàu di sản văn hóa Việt Nam, lưu giữ, trao truyền và phát huy trong tương lai.

Việc quy hoạch bảo tàng cần đi đôi với xây dựng tiêu chí, quy trình và cơ chế đánh giá tiềm năng, bảo đảm cân đối giữa các lĩnh vực, gồm bảo tàng chính trị; bảo tàng lực lượng vũ trang; bảo tàng nghệ thuật; bảo tàng thiên nhiên, khoa học kỹ thuật, nông nghiệp, biển, sinh học; bảo tàng chuyên ngành và bảo tàng tổng hợp của địa phương, phù hợp với năng lực, điều kiện của ngành và địa phương theo địa giới hành chính mới. Các bảo tàng trưng bày phục vụ công chúng cần gắn với sản phẩm văn hóa, du lịch và công nghiệp văn hóa.

Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch cũng xác định cần phối hợp tham mưu cơ chế thúc đẩy đầu tư, xây dựng và hoàn thiện một số công trình, thiết chế văn hóa, bảo tàng xứng tầm, hướng tới kỷ niệm 100 năm thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, 100 năm thành lập nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; để Việt Nam tiến tới trở thành điểm đến, tổ chức các sự kiện tầm cỡ quốc tế. Trong đó có Bảo tàng Đảng Cộng sản Việt Nam và một số công trình nhà hát, trung tâm nghệ thuật, thể thao, sân vận động.

198-bo-truong-bao-cao-bbcn-1787142176.jpg
Ủy viên BCH Trung ương Đảng, Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Lâm Thị Phương Thanh báo cáo tại buổi làm việc

Hướng tới những bảo tàng, thiết chế văn hóa xứng tầm

Một trong những yêu cầu quan trọng được Bộ trưởng Lâm Thị Phương Thanh đề cập là nâng cao chất lượng nguồn nhân lực bảo tồn, bảo tàng, đáp ứng yêu cầu phát triển trong giai đoạn mới và hợp tác quốc tế.

Theo đó, cần tăng cường đào tạo, chú trọng những lĩnh vực còn thiếu như bảo quản, khoa học công nghệ, chuyển đổi số; bổ sung, kiện toàn đội ngũ cán bộ quản lý, nhà khoa học, chuyên gia và cán bộ chuyên môn.

Việt Nam tiếp tục củng cố vai trò, vị thế, kinh nghiệm trong tham gia các cơ chế, tổ chức quan trọng của UNESCO; bồi dưỡng chuyên gia tư vấn độc lập tham gia các cơ quan chuyên môn sâu của quốc tế; đẩy mạnh hợp tác quốc tế trong bảo tồn, bảo tàng nhằm đưa các giá trị văn hóa Việt Nam ra thế giới, đồng thời tiếp thu kinh nghiệm, tinh hoa văn hóa thế giới.

Về đề xuất, kiến nghị, Bộ trưởng Lâm Thị Phương Thanh đề nghị Tổng Bí thư, Chủ tịch nước, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Quốc hội, Chính phủ quan tâm, tạo điều kiện, chỉ đạo các bộ, ngành, địa phương phối hợp với Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch thực hiện các nhiệm vụ cụ thể.

Trong đó, ưu tiên tập trung đầu tư một số bảo tàng trọng điểm, hình thành khối bảo tàng đủ năng lực, điều kiện tiếp cận trình độ các bảo tàng hàng đầu thế giới trong những năm tới.

Nhà nước và các địa phương cần ưu tiên quy hoạch, dành quỹ đất để đầu tư xây dựng các công trình, dự án trọng điểm, thiết chế văn hóa, bảo tàng mới xứng tầm, trở thành di sản trong tương lai; tạo điều kiện về vốn, tín dụng, ưu đãi thuế, có cơ chế tạo nguồn thu hồi và huy động nguồn lực xã hội, chia sẻ rủi ro để khuyến khích đầu tư cho công tác bảo tồn, bảo tàng và phát triển công nghiệp văn hóa.

Trong thời gian tới, cần nghiên cứu đầu tư xây dựng Trung tâm quốc gia về bảo quản và phục chế di sản văn hóa, bảo đảm điều kiện, tiêu chuẩn và bảo vệ lâu dài di tích, hiện vật, Bảo vật quốc gia, các tác phẩm nghệ thuật.

Trung tâm có thể đặt tại Bảo tàng Lịch sử Quốc gia, thực hiện các nhiệm vụ phân tích, chẩn đoán, bảo quản phòng ngừa, bảo quản trị liệu, phục chế khoa học, cứu hộ hiện vật, xây dựng tiêu chuẩn, chuyển giao công nghệ và đào tạo chuyên gia.

Những nhiệm vụ, giải pháp và đề xuất trên hướng tới nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác bảo tồn, bảo tàng; gìn giữ, trao truyền và phát huy bền vững kho tàng di sản văn hóa của dân tộc, đồng thời khai thác hiệu quả nguồn lực văn hóa phục vụ sự phát triển của đất nước trong giai đoạn mới.