Dự thảo Luật được xây dựng trên quan điểm xác định trúng, đúng các cơ chế, chính sách mang tính then chốt tầm luật để tạo khung khổ pháp lý cho thúc đẩy phát triển công nghiệp văn hóa.
Tiếp cận công nghiệp văn hóa là chuỗi giá trị để thúc đẩy phát triển từ góc độ phát triển một ngành kinh tế chiến lược, không làm phát sinh thêm thủ tục hành chính; không quy định lại những chính sách mà các luật chuyên ngành và các luật khác đã quy định; ưu tiên làm rõ những “điểm mờ” mà các luật chuyên ngành chưa cụ thể hóa, đặc biệt là trong khâu tổ chức thực thi.
Dự thảo Luật ưu tiên bổ sung quy định lấp đầy những “khoảng trống” mà các luật chuyên ngành chưa có, nhưng không trái với luật chuyên ngành; lựa chọn có chọn lọc một số “điểm nghẽn” trong hệ thống pháp luật đã chín, đã rõ, nhận được sự đồng thuận cao, để tháo gỡ.
6 nhóm chính sách
Trên cơ sở rà soát những vướng mắc, khó khăn, bất cập (chưa được pháp luật quy định hoặc đã có quy định nhưng chưa phù hợp), dự thảo Luật tập trung giải quyết các vấn đề mang tính then chốt để thúc đẩy phát triển công nghiệp văn hóa thông qua 6 nhóm chính sách như sau:
Chính sách 1: Hệ sinh thái công nghiệp văn hóa
Việc đề xuất chính sách này để thể chế mục tiêu đã nêu tại Nghị quyết số 80-NQ/TW "Đẩy mạnh phát triển các ngành công nghiệp văn hoá; hình thành hệ sinh thái khởi nghiệp công nghiệp văn hoá, nghệ thuật sáng tạo".
Sự phát triển của công nghiệp văn hóa phụ thuộc chặt chẽ vào tính đồng bộ, liên kết giữa các chủ thể trong chuỗi giá trị. Tuy nhiên hiện nay đang đối mặt với nhiều hạn chế lớn: Sự thiếu kết nối và chia sẻ thông tin giữa các thành tố; rào cản về chi pí và công cụ công nghệ trong sáng tạo nội dung; sự thiếu hụt các kỹ năng số và hạ tầng dữ liệu dùng chung; cùng rào cản pháp lý chưa kịp thích ứng với các mô hình kinh doanh, sản phẩm văn hóa công nghệ mới.
Dự thảo Luật đề xuất 04 nhóm giải pháp trọng tâm nhằm định hình, củng cố và phát triển toàn diện Hệ sinh thái công nghiệp văn hóa. Đó là: Định hình toàn diện hệ sinh thái và thiết lập cơ chế đánh giá, liên kết chuỗi giá trị; Hỗ trợ toàn diện các hoạt động nền tảng của hệ sinh thái; Đầu tư bộ công cụ sáng tạo, cấp gói cơ bản miễn phí cho toàn dân; Thiết lập cơ chế thử nghiệm có kiểm soát cho các mô hình văn hóa công nghệ mới.
Chính sách 2: Tài sản trí tuệ trong các ngành công nghiệp văn hóa
Điểm then chốt của chính sách này là tháo gỡ triệt để các rào cản: Sự thiếu hụt công cụ quản lý và truy xuất vòng đời tài sản trên môi trường số; tình trạng thiếu hồ sơ chuẩn hóa phục vụ thương mại hóa; rào cản trong tiếp cận vốn tín dụng bằng tài sản trí tuệ; thiếu công cụ hỗ trợ bảo vệ quyền sáng tạo và sự bất cập về năng lực định giá tài sản trí tuệ.
Về nội dung này, dự thảo Luật đề xuất 04 nhóm giải pháp trọng tâm: SỐ hóa, định danh và chuẩn hóa quản lý tài sản trí tuệ; Khai thông nguồn vốn và chính thức hóa giao dịch tài sản trí tuệ; Hỗ trợ công cụ quản lý sáng tạo và bảo hộ bản quyền; Nâng cao năng lực và bảo vệ pháp lý cho hoạt động định giá.
Chính sách 3: Nhân lực công nghiệp văn hóa
Nhân lực công nghiệp văn hóa là yếu tố cốt lõi, quyết định sức sáng tạo và tính cạnh tranh của toàn ngành.
Chính sách này nhằm tháo gỡ triệt để các điểm nghẽn về tiêu chuẩn nhà giáo; tính liên thông trong đào tạo; quy trình tuyển dụng, bổ nhiệm đối với khu vực công; cơ chế đãi ngộ nhân lực chất lượng cao; cùng tình trạng phân tán nguồn lực đầu tư cho tài năng.
Lần đầu tiên, dự thảo Luật quy định việc xây dựng Khung năng lực nhân lực công nghiệp văn hóa, phù hợp với Khung trình độ quốc gia Việt Nam và các khung tham chiếu quốc tế, làm căn cứ chuẩn hóa toàn bộ hoạt động đào tạo, đánh giá và phát triển nguồn nhân lực.
Dự thảo Luật đề xuất 03 nhóm giải pháp đột phá. Bao gồm: Đổi mới phát triển nhân lực trong hệ thống giáo dục quốc dân; Ươm mầm tài năng đỉnh cao; Thu hút và trọng dụng nhân lực chất lượng cao.
Chính sách 4: Hạ tầng công nghiệp văn hóa
Trên cơ sở kế thừa các quy định hiện hành, dự thảo Luật tiến thêm một bước quan trọng khi đưa ra quy định có tính chất "đặt tên" chính thức và đầy đủ cho các thành phần, tạo nên một hành lang pháp lý đồng bộ về hạ tầng công nghiệp văn hoá, bao gồm 04 nhóm thành phần cơ bản: (1) Công trình hạ tầng công nghiệp văn hoá (bao gồm công trình quốc gia và công trình cấp tỉnh); (2) Tổ hợp sáng tạo văn hoá, cụm, khu công nghiệp sáng tạo văn hoá; (3) Không gian công cộng cho hoạt động công nghiệp văn hóa; và (4) Hạ tầng văn hoá số.
Đối với hạ tầng văn hoá số, dự thảo Luật xác định hạ tầng dữ liệu là cấu phần cốt lõi và chuẩn hóa các nền tảng số quan trọng, bao gồm: (1) Kho dữ liệu văn hóa số quốc gia; (2) Cơ sở dữ liệu về văn hóa; và (3) Hệ thống nền tảng số, phần mềm, công cụ kỹ thuật phục vụ tạo lập, chuẩn hóa, quản trị, lưu trữ, kết nối, chia sẻ, phân tích, khai thác, sử dụng dữ liệu văn hóa số và hỗ trợ bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ. Đồng thời, dự thảo Luật đẩy mạnh phân cấp quản lý khi giao trách nhiệm cho Ủy ban nhân dân cấp xã trong việc chủ động số hóa, thu thập và cập nhật dữ liệu văn hóa tại địa phương.
Đặc biệt, Dự thảo Luật thiết lập hệ thống các cơ chế, chính sách mang tính đột phá nhằm giải phóng tối đa nguồn lực và thu hút mạnh mẽ các dòng vốn đầu tư xã hội. Cụ thể: Về quản lý, đầu tư và tài sản công; Về cải cách thủ tục hành chính và hỗ trợ đối tượng sáng tạo; Về huy động nguồn lực và nâng cao hiệu quả;
Chính sách 5: Thị trường công nghiệp văn hóa
Thị trường công nghiệp văn hoá là yếu tố then chốt, mang tính quyết định sự thành công. Thị trường được tạo nên từ hai yếu tố, là cung và cầu.
Điểm đặc trưng khác biệt của các ngành công nghiệp văn hoá Việt Nam so với các ngành công nghiệp khác là ngành công nghiệp văn hoá có thể huy động được toàn dân tham gia vừa sáng tạo, vừa tiêu thụ. Và nếu huy động được toàn dân thì các ngành công nghiệp văn hoá Việt Nam sẽ có bước phát triển đột phá.
Tuy nhiên, sự phát triển của thị trường công nghiệp văn hóa đang đối mặt với nhiều rào cản lớn: Thiếu thước đo định lượng để phân bổ nguồn lực; năng lực quản trị, năng lực số và thương hiệu của doanh nghiệp còn hạn chế; thiếu hạ tầng giao dịch và định giá tài sản trí tuệ; chi phí tiếp cận sản phẩm văn hóa của các đối tượng chính sách còn cao; cùng các rào cản trong hoạt động xúc tiến thương mại và vươn ra thị trường quốc tế.
Dự thảo Luật đưa ra 05 nhóm giải pháp trọng tâm nhằm giải quyết các điểm nghẽn trên và thúc đẩy thị trường công nghiệp văn hóa phát triển bứt phá: (1) Chuẩn hóa và định hình sản phẩm công nghiệp văn hóa mũi nhọn; (2) Nâng cao năng lực doanh nghiệp và phát triển Thương hiệu công nghiệp văn hóa quốc gia; (3) Khai thông hạ tầng giao dịch tài sản trí tuệ và sản phẩm công nghiệp văn hóa; (4) Thúc đẩy tiêu dùng văn hóa toàn dân qua công cụ số; (5) Đẩy mạnh xúc tiến thương mại và xuất khẩu văn hóa.
Chính sách 6: Tài chính và hỗ trợ, ưu đãi đầu tư
Điểm then chốt của chính sách này là tháo gỡ các điểm nghẽn lớn về nguồn lực, bao gồm: Sự phân tán và thiếu hụt các nguồn tài chính chuyên biệt cho văn hóa; rào cản trong việc huy động vốn tư nhân và cơ chế chia sẻ rủi ro giữa Nhà nước với doanh nghiệp; chính sách ưu đãi đầu tư chưa đủ sức hấp dẫn đối với hạ tầng và các sản phẩm trọng điểm; rào cản về thuế, phí, tín dụng đối với các doanh nghiệp nhỏ, hợp tác xã và hộ sáng tạo; cùng sự thiếu vắng các chính sách để cạnh tranh quốc tế để thu hút các nhà đầu tư chiến lược nước ngoài có khả năng đưa sản phẩm văn hóa Việt Nam vươn ra toàn cầu.
Dự thảo Luật đề xuất 05 nhóm giải pháp trọng tâm nhằm tạo đột phá về cơ chế tài chính và ưu đãi đầu tư: (1) Đa dạng hóa nguồn tài chính và thiết lập cơ chế đồng đầu tư; (2) Ưu đãi đặc biệt cho hạ tầng, tổ hợp và cụm công nghiệp sáng tạo; (3) Đòn bẩy hỗ trợ toàn diện cho tổ chức, doanh nghiệp và cá nhân sáng tạo; (4) Chính sách ưu đãi vượt trội cho sản phẩm trọng điểm và tài sản trí tuệ cốt lõi; (5) Thu hút nhà đầu tư chiến lược nước ngoài và khuyến khích cơ sở công cộng.
Theo Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, việc xây dựng dự thảo Luật Công nghiệp văn hóa với mục đích thể chế hóa kịp thời, đầy đủ và thống nhất các chủ trương lớn của Đảng về phát triển công nghiệp văn hóa nhằm cụ thể hóa các quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp nêu tại Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị; Kết luận số 18-KL/TW Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, tài chính quốc gia và vay, trả nợ công, đầu tư công trung hạn 5 năm 2026-2030.
Cụ thể, thông qua việc ban hành Luật Công nghiệp văn hóa sẽ xác định địa vị pháp lý chính thức cho các ngành công nghiệp văn hoá trong cơ cấu ngành kinh tế Việt Nam sau 12 năm nỗ lực triển khai.
Kết nối chuỗi giá trị để thúc đẩy các ngành công nghiệp văn hoá Việt Nam có phát triển đột phá về mặt giá trị kinh tế, tăng cường xuất khẩu, thu hút FDI chiến lược, chiếm tỷ trọng tối thiểu 7% GDP hằng năm càng sớm càng tốt, thay vì chờ đến năm 2030; lan toả sức ảnh hưởng của bản sắc văn hoá Việt Nam, thương hiệu quốc gia Việt Nam và "sức mạnh mềm Việt Nam" trên trường quốc tế.