Phê duyệt Chương trình phát triển kinh tế số và xã hội số giai đoạn 2026-2030

Theo đó, trong giai đoạn này, mục tiêu tổng quát được đặt ra là xây dựng nền kinh tế số năng động dựa trên nền tảng số, dữ liệu và trí tuệ nhân tạo; từng bước hình thành phương thức sản xuất mới, thúc đẩy đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao năng suất lao động, phát triển xanh và bền vững. Đồng thời, kiến tạo xã hội số văn minh, an toàn và bao trùm, bảo đảm mọi người dân được tiếp cận và thụ hưởng các thành quả của khoa học, công nghệ và chuyển đổi số, nâng cao chất lượng cuộc sống và hạnh phúc của người dân.

kinh-te-so-1781496397.jpg
Phát triển hạ tầng số nhanh, đồng bộ, hiện đại, an toàn và bền vững. Ảnh minh họa (Nguồn: internet)

Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định phê duyệt Chương trình phát triển kinh tế số và xã hội số giai đoạn 2026-2030.

Cụ thể đến năm 2030, về kinh tế số, phấn đấu có tỷ trọng giá trị tăng thêm của kinh tế số trong GDP đạt khoảng 30%; Hỗ trợ tối thiểu 500.000 doanh nghiệp nhỏ và vừa chuyển đổi số; Tối thiểu có 5 doanh nghiệp công nghệ số ngang tầm các nước tiên tiến; Phát triển, thúc đẩy và đưa vào sử dụng tối thiểu 5 sàn dữ liệu; Giá trị thanh toán không dùng tiền mặt gấp 30 lần GDP; Tỷ trọng quy mô đào tạo giáo dục đại học các ngành khoa học, công nghệ, kỹ thuật và toán (STEM) đạt 40%.

Về xã hội số, đặt chỉ tiêu có tỷ lệ hộ gia đình được tiếp cận mạng Internet băng rộng cáp quang với tốc độ 1 Gb/s đạt 100%; Mạng băng rộng di động 5G đạt tốc độ tối thiểu 100 Mb/s, phủ sóng 99% dân số; 100% công dân Việt Nam từ 14 tuổi trở lên có căn cước, tài khoản định danh điện tử; Tỷ lệ dân số từ 15 tuổi trở lên có tài khoản giao dịch tại ngân hàng hoặc tổ chức được phép khác đạt 95%; Tỷ lệ dân số từ 18 tuổi trở lên có chữ ký số hoặc chữ ký điện tử cá nhân đạt trên 70%; Đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao năng lực số cơ bản cho tối thiểu 10.000.000 lượt người trong độ tuổi lao động.

Để đạt được các mục tiêu trên, Chương trình sẽ triển khai nhiều nhóm nhiệm vụ. Theo đó, tập trung hoàn thiện thể chế, xây dựng hành lang pháp lý đồng bộ, minh bạch, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và phát triển kinh tế số, xã hội số.

Phát triển hạ tầng số nhanh, đồng bộ, hiện đại, an toàn và bền vững, bảo đảm kết nối số toàn dân và tạo nền tảng cho kinh tế số, xã hội số. Nhà nước giữa vai trò chủ đạo trong đầu tư các hạ tầng số chiến lược và hạ tầng số công cộng thiết yếu; doanh nghiệp phát triển các hạ tầng số khác theo cơ chế thị trường. Tăng cường kết nối, liên thông và công nhận lẫn nhau hạ tầng số công cộng trong nước và quốc tế.

Phát triển nền tảng số dùng chung, nền tảng số quốc gia và hệ sinh thái số do Việt Nam làm chủ, ưu tiên giải quyết các bài toán kinh tế, xã hội và môi trường mang tính liên ngành, liên vùng. Phát triển kinh tế dữ liệu trở thành nguồn lực mới và động lực quan trọng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế số. Thúc đẩy ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong các ngành, lĩnh vực nhằm nâng cao năng suất, tối ưu hóa vận hành và đổi mới phương thức ra quyết định trên dữ liệu, bảo đảm các nguyên tắc về đạo đức trí tuệ nhân tạo, an toàn và bảo vệ quyền riêng tư. Bảo đảm an ninh mạng để xây dựng niềm tin số trong phát triển kinh tế số và xã hội số. Phát triển nguồn nhân lực số toàn diện, bao gồm nhân lực công nghệ số, chuyên gia công nghệ số và lực lượng lao động có năng lực số; phổ cập năng lực số toàn xã hội.

Phát triển công dân số và văn hóa số làm nền tảng xã hội số an toàn, lành mạnh và bao trùm. Phát triển doanh nghiệp công nghệ số Việt Nam trở thành lực lượng nòng cốt, làm chủ công nghệ số chiến lược, phát triển hệ sinh thái sản phẩm, dịch vụ công nghệ số trọng điểm “Make in Vietnam" và vươn ra thị trường quốc tế.

Phát triển quản trị số quốc gia dựa trên dữ liệu, minh bạch, hiệu quả; đẩy mạnh số hóa, tự động hóa quản lý và cung cấp dịch vụ công cho người dân và doanh nghiệp. Thúc đẩy phát triển các thị trường hiện đại phục vụ kinh tế số, trong đó tập trung vào thị trường đổi mới sáng tạo và công nghệ, thị trường dữ liệu, thị trường tín chỉ carbon, sàn giao dịch tài sản và hệ thống các tổ chức định giá độc lập, trung tâm phân tích và cảnh báo rủi ro chuỗi cung ứng; bảo đảm vận hành minh bạch, an toàn, hiệu quả, công bằng.

Ngoài ra, nhiều giải pháp đã được đưa ra nhằm phát triển kinh tế số và xã hội số ngành, lĩnh vực.

Đối với ngành Du lịch, sẽ triển khai ứng dụng công nghệ số phục vụ quản trị, vận hành hiệu quả các cơ sở du lịch (lưu trú - lữ hành - ăn uống - điểm đến), nâng cao trải nghiệm của du khách; phát triển nền tảng dữ liệu số du lịch quốc gia. Xây dựng các hệ thống thông tin quảng bá và xúc tiến du lịch quốc gia, trong đó đa dạng hóa hình thức du lịch thông qua các chương trình du lịch số, du lịch thực tế ảo; áp dụng công nghệ trí tuệ nhân tạo hướng tới hình thành các điểm đến thông minh và cá nhân hóa trải nghiệm. Phát triển nhân lực ngành Du lịch có kỹ năng sử dụng các nền tảng quản trị, kinh doanh du lịch và các kỹ năng theo tiêu chuẩn nghề du lịch trong nước và ngoài nước.

Đối với ngành Văn hóa, Thể thao, tập trung phát triển văn hóa số, thể thao số nhằm thúc đẩy công nghiệp văn hóa, công nghiệp giải trí, lan tỏa bản sắc Việt Nam và tạo động lực tăng trưởng kinh tế. Đẩy mạnh số hóa di sản, di tích, bảo tàng, thư viện, tác phẩm văn học, nghệ thuật và dữ liệu thể thao; xây dựng, kết nối, chia sẻ và khai thác cơ sở dữ liệu văn hóa, thể thao với các cơ sở dữ liệu khác.

Phát triển nền tảng số, ứng dụng AI, 3D/VR trong sáng tạo, phân phối, trải nghiệm, huấn luyện, quản lý và khai thác thương mại; tăng cường bảo vệ bản quyền, quyền sở hữu trí tuệ, thực hiện ứng xử văn hóa trên môi trường số và khuyến khích doanh nghiệp phát triển sản phẩm, dịch vụ văn hóa, mô hình kinh doanh mới trên môi trường số. Hình thành các trung tâm đổi mới sáng tạo văn hóa - sáng tạo nội dung và không gian sáng tạo mở để tăng cường khả năng tiếp cận, sáng tạo và thụ hưởng các sản phẩm, dịch vụ văn hóa cho người dân, tạo động lực tăng trưởng kinh tế.

P.V