Phát triển các môn thể thao trọng điểm tham dự các kỳ Olympic và ASIAD giai đoạn 2026-2046

Mục tiêu của chương trình được chia làm 3 giai đoạn cụ thể. Trong đó, giai đoạn 2026-2030, phấn đấu đạt thành tích thi đấu trong tốp 20 tại các kỳ ASIAD; trong đó, phấn đấu giành 05 huy chương vàng tại ASIAD 2026 và 06 huy chương vàng tại ASIAD 2030 trong nhóm các môn thể thao trọng điểm; Phấn đấu giành huy chương tại Olympic 2028 trong nhóm các môn thể thao trọng điểm.

asiad-19-1778231396.jpg
Đoàn thể thao Việt Nam tham dự Đại hội thể thao châu Á 2022 (ASIAD 19)

Phó Thủ tướng Chính phủ Phạm Thị Thanh Trà đã ký ban hành Quyết định số 816/QĐ-TTg phê duyệt Chương trình "Phát triển các môn thể thao trọng điểm tham dự các kỳ Olympic và ASIAD giai đoạn 2026-2046".

Chương trình "Phát triển các môn thể thao trọng điểm tham dự các kỳ Olympic và ASIAD giai đoạn 2026-2046" được triển khai với mục tiêu xây dựng lực lượng vận động viên xuất sắc trong các môn thể thao trọng điểm, vừa có trình độ chuyên môn, thể lực tốt, vừa có bản lĩnh thi đấu, đủ năng lực cạnh tranh huy chương tại các kỳ ASIAD và Olympic; trước mắt phấn đấu cải thiện thành tích ngay trong giai đoạn 2026-2030; đồng thời, hoàn thiện hệ thống cơ sở vật chất, trang thiết bị huấn luyện và các điều kiện bảo đảm (chế độ dinh dưỡng, các biện pháp hồi phục) nhằm nâng cao trình độ chuyên môn và thể lực cho vận động viên. 

Giai đoạn 2026-2030 phấn đấu đạt thành tích trong tốp 20 tại các kỳ ASIAD

Mục tiêu của chương trình được chia làm 3 giai đoạn cụ thể. Trong đó, giai đoạn 2026-2030, phấn đấu đạt thành tích thi đấu trong tốp 20 tại các kỳ ASIAD; trong đó phấn đấu giành 05 huy chương vàng tại ASIAD 2026 và 06 huy chương vàng tại ASIAD 2030 trong nhóm các môn thể thao trọng điểm; Phấn đấu giành huy chương tại Olympic 2028 trong nhóm các môn thể thao trọng điểm.

Duy trì ổn định các môn thể thao trọng điểm được đầu tư, đào tạo trong giai đoạn 2026-2030; đồng thời rà soát và bổ sung kịp thời khoảng 35-40 vận động viên, nội dung thi đấu có tiềm năng thuộc các môn thể thao nhằm phát hiện và phát triển các nhân tố có khả năng cạnh tranh huy chương tại ASIAD và Olympic.

Giai đoạn 2031-3035, phấn đấu đạt thành tích thi đấu trong tốp 20 tại các kỳ ASIAD; trong đó phấn đấu giành 07 huy chương vàng tại ASIAD 2034 trong nhóm các môn thể thao trọng điểm; Phấn đấu giành huy chương bạc tại Olympic 2032 trong nhóm các môn thể thao trọng điểm.

Hình thành hệ thống đồng bộ, thống nhất trong rà soát, phát hiện, tuyển chọn, đầu tư, đào tạo, bồi dưỡng và phát triển ổn định các môn thể thao trọng điểm đã được đầu tư trong cả giai đoạn 2026-2035 và tiếp tục bổ sung kịp thời khoảng 75-80 vận động viên, nội dung thi đấu có tiềm năng thuộc các môn thể thao khác nhằm đẩy mạnh khả năng cạnh tranh huy chương tại ASIAD và Olympic.

Giai đoạn 2036-2045, phấn đấu thành tích thi đấu đạt trong tốp 15 tại các kỳ ASIAD, tốp 50 tại các kỳ Olympic; trong đó phấn đấu có kỳ ASIAD giành 10 huy chương vàng, có kỳ Olympic giành nhiều hơn 01 huy chương vàng.

Ngành Thể thao hoàn thiện, vận hành hiệu quả hệ thống, quy trình, cơ chế có tính khoa học và thực tiễn phục vụ phát triển các môn thể thao trọng điểm, phấn đấu khả năng cạnh tranh huy chương tại ASIAD và Olympic thuộc tốp đầu ở khu vực; đồng thời duy trì hiệu quả cơ chế sàng lọc và bổ sung các vận động viên, nội dung thi đấu có tiềm năng thuộc các môn thể thao khác nhằm đưa khả năng cạnh tranh huy chương tại ASIAD và Olympic từng bước tiệm cận với mặt băng châu lục ở một số môn, nội dung thi đấu; Phấn đấu đăng cai tổ chức ASIAD năm 2038 tại Việt Nam.

tr-3fnh-thu-vinh-1770253942994-1778231396.jpg
Ngành Thể thao hoàn thiện, vận hành hiệu quả hệ thống, quy trình, cơ chế có tính khoa học và thực tiễn phục vụ phát triển các môn thể thao trọng điểm, phấn đấu khả năng cạnh tranh huy chương tại ASIAD và Olympic

Rà soát, lựa chọn những vận động viên có tiềm năng, thành tích nổi bật các môn thể thao trọng điểm, ưu tiên đào tạo chuyên 

Để hoàn thành những mục tiêu đã đặt ra, Chương trình "Phát triển các môn thể thao trọng điểm tham dự các kỳ Olympic và ASIAD giai đoạn 2026-2046" tập trung vào một số nhiệm vụ và giải pháp chính gồm: Tổ chức tuyển chọn, đào tạo, huấn luyện vận động viên; Ứng dụng khoa học công nghệ, y học thể thao; Rà soát, nghiên cứu, xây dựng, hoàn thiện một số cơ chế, chính sách phù hợp, có tính chất đặc thù; Huy động, đa dạng hóa nguồn lực thực hiện Chương trình, trong đó rà soát, điều chỉnh cơ chế phân bổ ngân sách theo hướng tập trung, có trọng tâm, trọng điểm, ưu tiên các môn thể thao trọng điểm tham dự ASIAD và Olympic...

Trong đó, từ năm 2026, tổ chức rà soát, lựa chọn những vận động viên có tiềm năng, thành tích nổi bật các môn thể thao trọng điểm, bảo đảm tiêu chí về thể lực, tố chất chuyên môn, tâm lý thi đấu, khả năng tiến bộ vượt bậc trong 3 - 5 năm tới; thực hiện cơ chế sàng lọc liên tục, kiên quyết loại bỏ các trường hợp không đáp ứng yêu cầu; ưu tiên đào tạo chuyên sâu cho các nhóm nội dung, hạng cân, cự ly có khả năng giành huy chương.

Nghiên cứu, áp dụng phù hợp mô hình huấn luyện đặc thù, chuyên biệt trên thế giới, nhất là ở các nước có nền thể thao phát triển, như: "Trại huấn luyện tinh hoa" (Elite Training Camp), "Huấn luyện phân kỳ" (Periodization Training Model), "Đào tạo vận động viên theo hướng cá nhân hóa"; đồng thời kết hợp huấn luyện trong nước và quốc tế, trong đó chú trọng tập huấn dài hạn ở các nước có thế mạnh từng môn thể thao.

Tập trung xây dựng đội ngũ chuyên gia hỗ trợ đa ngành (y sinh học, tâm lý thể thao, phân tích dữ liệu, dinh dưỡng thể thao) bổ sung vào hệ thống huấn luyện; tổ chức các khóa học quốc tế cho huấn luyện viên trong nước, hướng tới đạt chứng chỉ huấn luyện quốc tế; mời chuyên gia nước ngoài có thành tích huấn luyện, đào tạo tại ASIAD, Olympic trực tiếp huấn luyện và chuyển giao công nghệ huấn luyện cho huấn luyện viên Việt Nam.

Triển khai thực hiện Chương trình, trong đó xây dựng kế hoạch tổng thể, từng giai đoạn và hằng năm

Thủ tướng Chính phủ giao Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch chịu trách nhiệm toàn diện về nội dung báo cáo, đề xuất và kiến nghị tại các tờ trình: Số 557/TTr-BVHTTDL ngày 08 tháng 12 năm 2025, số 129/TTr-B VHTTDL ngày 31 tháng 3 năm 2026; chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành, địa phương, cơ quan, tổ chức có liên quan chịu trách nhiệm tổ chức triển khai thực hiện Chương trình, trong đó xây dựng kế hoạch tổng thể, từng giai đoạn và hằng năm. 

Là cơ quan đầu mối, chịu trách nhiệm lựa chọn các cơ sở huấn luyện, đào tạo của quốc gia đối với các môn thể thao trọng điểm ở một số nước có nền thể thao phát triển; hằng năm rà soát, đánh giá và điều chỉnh, bổ sung danh sách các cơ sở huấn luyện, đào tạo, bảo đảm đáp ứng yêu cầu phát triển lâu dài.

Giao Bộ Công an, Bộ Quốc phòng trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền, tổ chức tuyển chọn, đào tạo, huấn luyện vận động viên các môn thể thao trọng điểm thuộc ngành công an, quân đội, trong đó bám sát định hướng của cơ quan quản lý, chuyên môn về thể thao của quốc gia; rà soát, quy hoạch lại các trung tâm thể thao, cơ sở thể thao trực thuộc để bảo đảm ưu tiên cho các môn thể thao trọng điểm; phối hợp trong kiểm tra, tuyển chọn vận động viên xuất sắc, tài năng tham gia chương trình đào tạo trọng điểm của quốc gia; cử vận động viên xuất sắc tập trung huấn luyện tại các cơ sở đào tạo, huấn luyện thể thao quốc gia, tham gia các đội tuyển quốc gia theo kế hoạch liên ngành, tham gia thi đấu tại các giải thi đấu thể thao quốc tế quan trọng theo kế hoạch tổng thể của Chương trình.

Bên cạnh đó, giao Bộ Công an, Bộ Quốc phòng lựa chọn một số trung tâm thể thao có thế mạnh, truyền thống trong huấn luyện, đào tạo các môn thể thao trọng điểm để đầu tư có chọn lọc, theo lộ trình và phù hợp, hiệu quả nhằm hỗ trợ hệ thống huấn luyện, đào tạo thể thao của quốc gia; chủ động bố trí ngân sách bảo đảm điều kiện tập luyện, trang thiết bị và các điều kiện cần thiết khác cho các đội tuyển thể thao của ngành thuộc các môn thể thao trọng điểm.

dienf-kinh-1778231530.jpg
Điền kinh Việt Nam đã chứng tỏ được đẳng cấp ở khu vực Đông Nam Á. Đây sẽ là nền tảng tốt cho sân chơi ASIAD và vươn xa hơn nữa là Olympic

Phối hợp nghiên cứu khoa học thể thao và phục hồi chức năng, trong đó chú trọng phát triển đội ngũ bác sĩ thể thao, huấn luyện viên có chứng chỉ quốc tế, tham gia mạng lưới phục hồi y học thể thao.

Xây dựng cơ chế, chính sách phù hợp nhằm hỗ trợ, thu hút vận động viên ngành công an, quân đội tham gia Chương trình; tham gia xây dựng chính sách hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp cho vận động viên sau khi giải nghệ; nghiên cứu chính sách đãi ngộ, đặc cách trong tuyển dụng các vận động viên trong ngành đạt thành tích xuất sắc tại các kỳ ASIAD và Olympic. Định kỳ đánh giá, báo cáo kết quả triển khai Chương trình về Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch để tổng hợp, báo cáo cấp có thẩm quyền.

Thủ tướng Chính phủ giao Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương xây dựng kế hoạch và chỉ đạo tổ chức thực hiện Chương trình phù hợp với định hướng, kế hoạch của cơ quan quản lý nhà nước về thể dục, thể thao ở Trung ương và điều kiện, thế mạnh của địa phương.

Chủ động bố trí ngân sách và huy động các nguồn lực xã hội hóa để triển khai thực hiện Chương trình tại địa phương, bảo đảm đúng quy định pháp luật và phù hợp với khả năng cân đối ngân sách, sử dụng hiệu quả, đúng mục đích nguồn kinh phí hỗ trợ từ ngân sách Trung ương (nếu có).

Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chỉ đạo triển khai hiệu quả các hoạt động tuyển chọn, đào tạo, huấn luyện và thi đấu của lực lượng vận động viên các môn thể thao trọng điểm, trong đó đẩy mạnh ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ, y sinh thể thao và dinh dưỡng; hỗ trợ phát triển hệ thống câu lạc bộ thể thao thành tích cao, trường năng khiếu thể thao trên địa bàn gắn với phát hiện, đào tạo vận động viên tài năng, nhất là ở các môn thể thao trọng điểm.

Định kỳ đánh giá, báo cáo kết quả triển khai Chương trình về Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch để tổng hợp, báo cáo cấp có thẩm quyền.

Giao các liên đoàn, hội, hiệp hội thể thao quốc gia phối hợp với Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trong việc tuyển chọn vận động viên xuất sắc, tài năng ở các môn thể thao trọng điểm để đào tạo dài hạn ở nước ngoài theo kế hoạch đã được phê duyệt; theo dõi, đánh giá trình độ vận động viên thuộc đối tượng của Chương trình; Đảm nhận đầu mối huy động các nguồn lực trong xã hội để hỗ trợ, phối hợp triển khai thực hiện Chương trình.

P.V