Hồi ký “Từ dòng sông quê mẹ”: Vận động viên bơi lội mang khát vọng độc lập

Hồi ký “Từ dòng sông quê mẹ” của cố Lão thành cách mạng Lê Đức Chỉnh - nguyên Tổng cục trưởng Tổng cục Thể dục thể thao là câu chuyện cảm động về một vận động viên bơi lội Việt Nam gắn bó với khát vọng độc lập.

a-2-1772983398-1773023633.jpg
Cố Lão thành cách mạng Lê Đức Chỉnh - nguyên Tổng cục trưởng Tổng cục Thể dục thể thao - tác giả Hồi ký “Từ dòng sông quê mẹ” 

Ra mắt năm 1997 bởi Nhà xuất bản Thể dục thể thao, cuốn sách không chỉ tái hiện tuổi thơ bên sông Lam mà còn khắc họa hành trình dùng thể thao phục vụ cách mạng, theo lý tưởng “Không gì quý hơn độc lập tự do”.

Tên thật là Hoàng Ngọc Chương, tác giả Lê Đức Chỉnh nguyên là Bí thư Tỉnh ủy Thái Nguyên, Phó Bí thư Tỉnh uỷ Hà Tĩnh, Khu uỷ viên Khu Tự trị Việt Bắc, Tổng Cục trưởng Tổng cục Thể dục thể thao, Chủ tịch Ủy ban Olympic Việt Nam. Cả cuộc đời gắn bó với ngành Thể dục thể thao, người cán bộ lão thành cách mạng Lê Đức Chỉnh chính là tấm gương cho các thế hệ ngành thể thao noi theo và học tập.

Ông sinh năm 1918 tại vùng đất giàu truyền thống yêu nước Đức Thọ (Hà Tĩnh) trong một gia đình nghèo nhưng hiếu học, chàng thanh niên Lê Đức Chỉnh đã sớm bộc lộ tinh thần yêu nước và một lòng đi theo cách mạng.

Mở đầu bằng lời giới thiệu sâu sắc từ Ban Tổ chức Cuộc vận động viết hồi ký “Những kỷ niệm sâu sắc về thể dục thể thao”, cuốn sách nhấn mạnh: Thể thao dưới thời thực dân chỉ là trò giải trí cho giai cấp thống trị, nhưng với người Việt mất nước, nó trở thành ngọn đuốc soi đường đấu tranh. 

Với khả năng thiên phú về bơi lội, ngay từ khi còn nhỏ, ông đã trực tiếp tham gia các hoạt động cách mạng, làm liên lạc chuyển tài liệu và truyền đơn qua những con sông. Nhưng những biến cố của gia đình và xã hội đã thay đổi cuộc đời ông khi phải xa quê hương, xa con sông La hiền hòa và vùng đất Hà Tĩnh để tới vùng đất Quy Nhơn. 

Một sự tình cờ khi ông đăng ký tham dự Giải Bơi Trung kỳ tại Huế năm 1942, ông đã giành ngôi quán quân và còn phá kỷ lục Trung kỳ. Chính thành tích này đã gắn bó cả cuộc đời ông với thể thao, cho dù ông đã chuyển qua nhiều vị trí công tác khác nhau.

Chương I “Sông quê” đưa người đọc về tuổi thơ êm đềm bên sông La (Nghệ An) những năm 1920. Dòng sông xanh ngắt, thuyền bè dập dềnh, lũy tre làng Đông Thái với nghề dệt lụa tơ tằm là bối cảnh tuổi thơ tác giả. Bãi cát “Soi”, ngôi miếu cổ dưới tán đa chính là nơi ông làm quen với sông nước.

“Ngày nào tôi và lũ bạn cũng có mặt ở bến nước… mơ một ngày vượt được sóng nước ra đó”, ông viết, vẽ nên bức tranh hồn nhiên xen lẫn bi kịch mất nước. 

Nỗi đau gia đình thấm đẫm chương sách: Ông nội hy sinh vì phong trào Văn Thân, ông ngoại bị thực dân Pháp hành hình tại Linh Cảm. Bà ngoại ôm đầu chồng giữa dòng máu yêu nước, hình ảnh ám ảnh tuổi thơ tác giả. “Mỗi khi mẹ tôi kể lại nỗi cơ hàn… mắt người đều ngấn lệ”, ông hồi tưởng, khắc họa không khí Cần Vương còn rền vang dù đã xa. Năm 1930, gặp anh Linh - cán bộ bí mật phong trào Xô Viết Nghệ Tĩnh - đánh thức ý thức cách mạng. 

Từ cậu bé bơi chơi, ông thành “người bơi giỏi” rải truyền đơn qua sông La. “Đầu tiên cầm trên tay một thứ “quốc cấm”… những dòng chữ giản dị như những tia chớp lóe sáng”, ông miêu tả cảm xúc lần đầu nhưng ngọn lửa yêu nước đã cháy trong ông từ rất lâu.

a-3-1772983398-1773023634.jpg
Với khả năng thiên phú về bơi lội, ngay từ khi còn nhỏ, ông đã trực tiếp tham gia các hoạt động cách mạng

Chương II “Đời thợ” mở ra hành trình mưu sinh. Học hết tiểu học, bố mất, ông thôi học làm thợ ảnh ở Vinh, Quy Nhơn, Nha Trang. Biển Quy Nhơn, Nha Trang khơi dậy đam mê bơi: “Mỗi lần đứng trước biển, tôi thấy lòng mình rộng mở… lao xuống nước mà tưởng như mình đang bay bổng”. Ông tự học kỹ thuật từ sách Pháp, phá kỷ lục Trung Kỳ tại Huế năm 1937 ở các cự ly 100m, 200m, 500m tự do rồi tại Sài Gòn năm 1942. 

Những chiến thắng lẫy lừng giữa quan chức thực dân đầy khinh miệt: tại Huế, ông vượt anh Vịnh Huế trước hàng ngàn khán giả. Nha Trang đón “hai nhà vô địch” bằng lễ rước, dù ông diện đồ mượn. 

Tình bạn với anh Bản, Bản Nha Trang - người anh em nghèo  là điểm sáng: “Anh không phải dân bơi lội, nhưng sao lại có thể chia sẻ được với niềm say mê của tôi!”. Hồi ký đan xen tình yêu dang dở: cô gái Quy Nhơn gọi ông “Tác-giăng”, nhưng thân phận thợ nghèo ngăn cản. Tai nạn đèo Rù Rì (xe hỏng, vết sẹo cánh tay), sốt rét rừng thiêng là thử thách khắc nghiệt. Dù vậy, giấy triệu tập tỉnh Hà Tĩnh vẫn gọi ông vào đội tuyển Trung Kỳ, bất chấp bệnh tật. 

Qua lối kể giản dị, giàu hình ảnh - sông Lam cuồn cuộn, nắng chang chang bể bơi, máu nghĩa sĩ - tác giả không chỉ kể chuyện cá nhân mà còn vẽ bức tranh thể thao Việt Nam thời thuộc địa: sân chơi của thực dân, vũ khí tinh thần của dân tộc. 

Hồi ký kết thúc bằng niềm tin cách mạng Tháng Tám. Sau Cách mạng tháng 8, ông tham gia rất nhiều hoạt động cách mạng khác nhau và được bầu vào Ban chấp hành Trung ương Đoàn Thanh niên. 

Đến năm 1969, ông được Đảng và Nhà nước giao nhiệm vụ về phụ trách ngành Thể dục thể thao. Ngành Thể dục thể thao khi đó gặp rất nhiều khó khăn, thiếu thốn. Cán bộ làm công tác Thể dục thể thao vừa thiếu, vừa chưa có nhiều kinh nghiệm. 

Việc phát triển phong trào Thể dục thể thao trong quần chúng nhân dân và qua đó tuyển chọn những vận động viên thể thao xuất sắc tham dự các giải thể thao quốc tế được đặt lên hàng đầu. Trong thời kỳ nhiều khó khăn này, Trung ương Đảng đã ra chỉ thị nhấn mạnh Thể dục thể thao là một biện pháp để bảo vệ và nâng cao sức khoẻ của người dân và vì vậy, cần phát triển Thể dục thể thao thành một phong trào rộng khắp trong quần chúng nhân dân, kết hợp việc phát triển phong trào quần chúng với xây dựng đội ngũ cán bộ và lực lượng nòng cốt.

Khoảng thời gian 13 năm ở cương vị lãnh đạo ngành Thể thao, hình ảnh của ông đã gắn bó với  một thời khó khăn nhưng hào hùng của Thể thao Việt Nam. Do đặc thù phải phát triển Thể dục thể thao trong bối cảnh cả nước có chiến tranh nên ông đã khéo léo đưa phong trào "Bơi, Chạy, Nhảy, Bắn, Võ" vào các hoạt động Thể dục thể thao. 

a-1-1772983398-1-1773023634.jpg
Khoảng thời gian 13 năm ở cương vị lãnh đạo ngành Thể thao, hình ảnh của ông đã gắn bó với một thời khó khăn nhưng hào hùng của Thể thao Việt Nam

Rất nhiều giải thể thao truyền thống lớn đã được bắt nguồn từ những chính sách thể thao quan trọng như: giải Bơi vượt sông Bạch Đằng, giải chạy Việt dã Báo Tiền phong... Ông đã từng khẳng định nhân tài thể thao của chúng ta là bắt nguồn từ phong trào thể thao của quần chúng nhân dân. 

Do đó, để phát triển được Thể dục thể thao thì cán bộ thể thao phải đi xuống cơ sở, địa phương, đến các nơi xa xôi, hẻo lánh để phát động phong trào. Ăn cùng dân ở cùng dân, làm cùng dân, có như vậy mới hiểu được người dân cần gì, cần làm như thế nào để phát triển phong trào thể thao. Thể dục thể thao đã góp phần gắn kết cộng đồng, nâng cao tình đoàn kết của mọi người trong xã hội. Những gian nan, vất vả của ngành trong thời kỳ chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ và công tác tổ chức cán bộ vào gây dựng phong trào thể thao ở miền nam sau ngày giải phóng đất nước chính là những thử thách lớn của ông trong quá trình xây dựng và phát triển của ngành.

Khi đã nghỉ công tác, ông vẫn thường xuyên tập luyện thể thao. Việc rèn luyện thể thao không chỉ giúp ông nâng cao thể lực, trí lực mà những hoạt động này còn giúp ông luôn vận động, hòa mình với những biến chuyển không ngừng của đời sống xã hội. Trong ông, tinh thần thể thao luôn rực cháy không ngừng. Dòng máu thể thao luôn chảy trong huyết quản của ông.

“Từ dòng sông quê mẹ” là báu vật lịch sử, khơi dậy niềm tự hào thế hệ trẻ. Trong thời hội nhập Olympic, nó nhắc nhở: Thể thao Việt Nam sinh ra từ dòng sông quê, nuôi dưỡng bởi lý tưởng dân tộc. Cuốn sách xứng đáng tái bản rộng rãi, truyền lửa cho thế hệ mới. Cho dù những bộn bề, toan tính đời thường ít nhiều cũng ảnh hưởng đến thể thao chân chính, nhưng ông luôn là tấm gương để những cán bộ làm thể thao noi theo.

Mỹ Hạnh