Tại buổi thảo luận ở Tổ về Dự thảo Nghị quyết của Quốc hội về phát triển văn hoá Việt Nam, các đại biểu cơ bản đồng tình với chủ trương ban hành Nghị quyết nhằm tạo ra những cơ chế đặc thù, vượt trội cho lĩnh vực văn hóa.
Một trong những điểm nhấn quan trọng nhất của dự thảo là đề xuất bảo đảm khoảng 2% tổng chi ngân sách nhà nước hàng năm cho văn hóa. Đại biểu Đoàn Thị Lê An (Đoàn ĐBQH tỉnh Cao Bằng) đánh giá đây là một tín hiệu chính trị rất mạnh mẽ, thể hiện sự thay đổi căn bản trong nhận thức, văn hóa không còn là lĩnh vực "tiêu tiền" thuần túy mà là nguồn lực phát triển.
Tuy nhiên, từ góc độ thực tiễn địa phương miền núi còn nhiều khó khăn, đại biểu Đoàn Thị Lê An bày tỏ sự lo ngại nếu quy định này được thiết kế theo hướng cứng. Với những tỉnh có quy mô ngân sách nhỏ như Cao Bằng, việc áp một tỷ lệ cố định sẽ tạo áp lực cực lớn lên việc cân đối ngân sách cho các lĩnh vực cấp thiết khác như hạ tầng và an sinh xã hội.
"Vấn đề không chỉ là chi bao nhiêu, mà quan trọng hơn là chi như thế nào để tạo ra giá trị thực, lan tỏa và bền vững", đại biểu Đoàn Thị Lê An nhấn mạnh.
Để giải quyết bài toán này, đại biểu đề xuất chuyển hướng từ quy định "tối thiểu 2%" sang mục tiêu "phấn đấu đạt khoảng 2% trong trung hạn" với lộ trình linh hoạt theo từng địa phương. Quan trọng hơn, ngân sách nhà nước cần đóng vai trò là "vốn mồi" để kích hoạt các nguồn lực xã hội thông qua cơ chế hợp tác công - tư (PPP).
Đồng quan điểm về nguồn lực, đại biểu Nguyễn Trung Kiên (Đoàn ĐBQH tỉnh Đồng Nai) cho rằng, Ban soạn thảo cần tách bạch rõ ràng phần chi 2% này với chi cho giáo dục và đào tạo. Do khái niệm văn hóa rất rộng, nếu không phân định rạch ròi, nguồn lực thực tế cho các hoạt động văn hóa đặc thù có thể bị lồng ghép, làm giảm hiệu quả thực chất của chính sách.
Tháo gỡ nút thắt pháp lý: Khi bảo tồn không nên là rào cản phát triển
Một vấn đề được Bộ trưởng Bộ Xây dựng Trần Hồng Minh (ĐBQH tỉnh Cao Bằng) đưa ra là sự chồng chéo và cứng nhắc trong các quy định bảo tồn đang cản trở sự phát triển kinh tế - xã hội. Dẫn chứng từ thực tế quản lý, Bộ trưởng Trần Hồng Minh chỉ ra những bất cập trong việc thực thi Luật Di sản văn hóa. Nhiều công trình thuộc di sản đã xuống cấp nghiêm trọng và đã có thông báo hết thời gian sử dụng, nhưng việc cải tạo, sửa chữa lại vướng quy định phải tôn dựng lại như cũ. Thực trạng này dẫn đến những tình huống trớ trêu trong thực tế vì vướng thủ tục.
Tại địa phương như Cao Bằng hay Đồng Nai, các dự án hạ tầng giao thông trọng điểm như đường cao tốc cũng đang gặp khó khăn khi đi ngang qua các khu vực di sản hoặc công viên địa chất.
Bộ trưởng Trần Hồng Minh cho rằng việc phải xin ý kiến các tổ chức quốc tế như UNESCO cho những điều chỉnh kỹ thuật nhỏ là bất hợp lý và gây chậm trễ cho tiến độ các dự án quốc gia. Bộ trưởng đề nghị cần có cơ chế thí điểm ngay trong Nghị quyết này để tháo gỡ các vướng mắc của Luật Di sản văn hóa vừa được thông qua năm 2024, tránh tình trạng “không dám ký” từ các cơ quan quản lý chuyên ngành khi đối mặt với thực tế công trình mục nát nhưng vẫn phải giữ nguyên trạng.
Từ "bảo tồn tĩnh" sang "bảo tồn sống": Sinh kế là chìa khóa bền vững
Một chủ đề nhận được nhiều sự quan tâm là làm thế nào để di sản không bị đóng băng trong các viện bảo tàng hay trên những trang hồ sơ di sản. Đại biểu Đoàn Thị Lê An cảnh báo về nguy cơ di sản "bị bảo tồn nhưng không còn sống" khi các làn điệu dân ca, nghề thủ công chỉ tồn tại trong các dịp hội diễn, trong khi lớp trẻ không còn mặn mà và nghệ nhân thì ngày càng cao tuổi.
Chìa khóa cho vấn đề này, theo các đại biểu, chính là việc gắn bảo tồn với sinh kế của người dân. Tại Cao Bằng, các giá trị như hát Then, đàn Tính hay nghề thủ công truyền thống hoàn toàn có thể trở thành sản phẩm du lịch có giá trị kinh tế cao. Tuy nhiên, hiện nay người dân vẫn "chưa thể sống được bằng văn hóa" do thiếu cơ chế hỗ trợ bài bản.
Đại biểu Đoàn Thị Lê An kiến nghị chuyển mạnh từ "bảo tồn tĩnh" sang "bảo tồn sống", đưa di sản vào dòng chảy của kinh tế sáng tạo và du lịch. Đồng thời, cần có chính sách đặc thù đãi ngộ nghệ nhân, coi họ là "chủ thể sáng tạo" thay vì chỉ là người giữ di sản thuần túy.
Đại biểu Nguyễn Trung Kiên cũng bổ sung thêm giải pháp cụ thể, nên quy định mỗi dân tộc thiểu số có một ngày lễ hội văn hóa truyền thống riêng được xác định rõ ràng. Điều này không chỉ giúp quảng bá hình ảnh mà còn tạo ra các sự kiện thu hút du khách, tạo công ăn việc làm trực tiếp cho đồng bào tại chỗ.
Lá chắn văn hóa Việt trên không gian số và truyền thông
Trong bối cảnh hội nhập và chuyển đổi số, việc bảo vệ bản sắc văn hóa dân tộc trên không gian mạng và các phương tiện truyền thông đại chúng được các đại biểu đặc biệt lưu ý.
Thảo luận về các ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp cho lĩnh vực công nghệ cao trong văn hóa, đại biểu Nguyễn Trung Kiên đề nghị cần có sự phân biệt rõ ràng. Ví dụ, đối với trò chơi điện tử (game), chỉ những sản phẩm mang tính giáo dục, quảng bá giá trị văn hóa Việt Nam mới nên được hưởng ưu đãi miễn giảm thuế. Nếu áp dụng đại trà cho cả các trò chơi "vô thưởng vô phạt" hoặc mang đậm văn hóa nước ngoài, vô hình trung chúng ta đang làm mất nguồn lực của nhà nước.
Bên cạnh đó, đại biểu cũng mạnh dạn đề xuất một quy định "cứng" về thời lượng phát sóng. Theo đó, các đài truyền hình cần đảm bảo ít nhất 70% đến 80% thời lượng chương trình, phim ảnh phải mang nội dung văn hóa Việt Nam. Điều này nhằm ngăn chặn tình trạng lấn lướt của các chương trình giải trí nước ngoài, góp phần định hướng thẩm mỹ cho khán giả trong nước.
Về công tác quản lý, các đại biểu cũng đề nghị đẩy mạnh số hóa di sản, xây dựng cơ sở dữ liệu mở để khai thác hiệu quả giá trị trong bối cảnh mới. Đây được xem là hướng đi tất yếu để văn hóa tiếp cận gần hơn với công chúng trẻ.