Chính phủ vừa ban hành Nghị định số 277/2026/NĐ-CP về Hạ tầng văn hóa số. Một trong những nội dung đáng chú ý được nêu tại Nghị định là quy định về Kho dữ liệu văn hóa số quốc gia.
Theo Nghị định, Kho dữ liệu văn hóa số quốc gia được hiểu là môi trường lưu trữ, tích hợp, chuẩn hóa, quản trị, phân phối và khai thác dữ liệu văn hóa số từ các cơ sở dữ liệu, hệ thống thông tin, nền tảng số, kho dữ liệu chuyên ngành và nguồn dữ liệu hợp pháp khác; không thay thế cơ sở dữ liệu quốc gia, cơ sở dữ liệu chuyên ngành, cơ sở dữ liệu của bộ, ngành, địa phương, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác, chúa dữ liệu văn hóa số tồn tại dưới nhiều định dạng khác nhau (có cấu trúc, bản cấu trúc, phi cấu trúc, không gian, đồ thị, 3D, VR, AR, đa phương tiện, tri thức, ngữ nghĩa,...).
Kho dữ liệu văn hóa quốc gia bao gồm các thành phần: Dữ liệu gốc; Dữ liệu đã được xử lý, chuẩn hóa, gắn dữ liệu đặc tả; Dữ liệu được tích hợp, đồng bộ từ các cơ sở dữ liệu, hệ thống thông tin khác nhau và Dữ liệu phái sinh (dữ liệu đã được xử lý, dán nhãn phục vụ huấn luyện trí tuệ nhân tạo,...).
Kho dữ liệu văn hóa số quốc gia được sử dụng phục vụ công tác quản lý Nhà nước, thống kê, phân tích chuyên sâu, tổng hợp, dự báo và hoạch định chiến lược, chính sách phát triển văn hóa. Bên cạnh đó, cung cấp dữ liệu phục vụ giáo dục, đào tạo, nghiên cứu, phát triển trí tuệ nhân tạo, công nghệ số, phát triển sản phẩm, dịch vụ văn hóa số và đổi mới sáng tạo trong lĩnh vực văn hóa; Cung cấp dữ liệu để các tổ chức, cá nhân khai thác, sử dụng nhằm phục vụ sáng tạo, sản xuất, phân phối các sản phẩm, dịch vụ văn hóa số, phát triển công nghiệp văn hóa theo quy định của pháp luật.
Ngoài ra, Kho dữ liệu văn hóa số quốc gia còn được sử dụng phục vụ ngoại giao văn hóa, thông tin đối ngoại, quảng bá hình ảnh đất nước, con người, văn hóa Việt Nam; giới thiệu hình ảnh địa phương, di sản, danh hiệu, sản phẩm và không gian văn hóa Việt Nam tới cộng đồng quốc tế và người Việt Nam ở nước ngoài. Đồng thời, cung cấp dữ liệu mở, dữ liệu mở có điều kiện, dữ liệu khai thác có thu phí, dữ liệu khai thác thương mại theo quy định của pháp luật.
Kho dữ liệu văn hóa số quốc gia được kết nối, chia sẻ dữ liệu thông qua nền tảng chia sẻ, điều phối dữ liệu, Nền tảng tích hợp, chia sẻ dữ liệu quốc gia, Cổng dữ liệu quốc gia, Sàn giao dịch dữ liệu, Sàn giao dịch bản quyền số và tài sản số; đồng thời kết nối với các nền tảng số, hệ thống số thông qua giao diện lập trình ứng dụng (API); thiết lập cổng kiểm thử giao diện lập trình (API sandbox) công khai với dữ liệu giả lập dành cho cộng đồng nhà phát triển.
Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch là cơ quan chủ quản, chịu trách nhiệm tổ chức, xây dựng, thiết lập, quản lý, quản trị, vận hành và phát triển Kho dữ liệu văn hóa số quốc gia.