Nêu ý kiến thảo luận, đại biểu Hòa thượng Thích Bảo Nghiêm (Đoàn đại biểu Quốc hội thành phố Hà Nội) bày tỏ thống nhất cao với việc ban hành Nghị quyết về phát triển văn hóa Việt Nam.
Theo đại biểu, đây là một bước đi rất cần thiết trong bối cảnh chúng ta đang bước vào giai đoạn phát triển mới, nơi văn hóa không chỉ là nền tảng tinh thần mà còn trở thành một nguồn lực nội sinh quan trọng của tăng trưởng.
Để Nghị quyết thực sự tạo ra đột phá, đại biểu Hòa thượng Thích Bảo Nghiêm đóng góp một số ý kiến như sau:
Thứ nhất, về Điều 2 quy định Ngày Văn hóa Việt Nam 24/11, theo đại biểu, đây là một sáng kiến đáng ghi nhận. Tuy nhiên, nếu chỉ dừng lại ở việc người lao động được nghỉ làm việc và miễn phí tham quan thì hiệu quả lan tỏa sẽ chưa lớn. Đại biểu đề nghị cần thiết kế ngày này trở thành một sự kiện văn hóa sáng tạo mang tính quốc gia, gắn với các hoạt động như là lễ hội văn hóa, tuần lễ công nghiệp sáng tạo, kích cầu du lịch và tiêu dùng văn hóa. Như vậy, ngày này không chỉ mang ý nghĩa tinh thần mà còn tạo ra giá trị kinh tế và xã hội rõ rệt.
Thứ hai, về Điều 4 về cơ chế đầu tư và hợp tác công tư trong lĩnh vực văn hóa. Dự thảo đã mở ra nhiều cơ chế rất thông thoáng. Theo đại biểu, đây là điểm tiến bộ nhưng cũng cần hết sức thận trọng. Văn hóa không giống các lĩnh vực thuần túy kinh tế. Nếu xã hội hóa thiếu kiểm soát có thể dẫn đến thương mại hóa quá mức, làm suy giảm giá trị văn hóa. Vì vậy, đại biểu đề nghị cần có tiêu chí rõ ràng để phân định lĩnh vực nào có thể xã hội hóa sâu, lĩnh vực nào Nhà nước phải giữ vai trò chủ đạo, đặc biệt là các di sản và thiết chế văn hóa cốt lõi.
Thứ ba, về Điều 5 về chính sách ưu đãi tài chính, đại biểu đồng tình với cơ chế miễn, giảm thuế nhằm thu hút đầu tư vào công nghiệp văn hóa. Tuy nhiên, hiện nay chính sách chủ yếu tập trung vào ưu đãi đầu tư trong khi chưa gắn chặt với hiệu quả đầu tư. Điều này có thể dẫn đến tình trạng lợi dụng chính sách. Vì vậy, đại biểu đề nghị cần bổ sung cơ chế hậu kiểm, gắn ưu đãi với các tiêu chí cụ thể như mức độ sáng tạo, tỷ lệ nội dung Việt, đóng góp cho xuất khẩu văn hóa, từ đó bảo đảm chính sách đi đúng mục tiêu.
Thứ tư, về chính sách nhân lực. Dự thảo đã có nhiều cơ chế đột phá thu hút chuyên gia, đãi ngộ nghệ sĩ, tuyển dụng đặc cách. Tuy nhiên, để phát huy hiệu quả cần xây dựng một hệ sinh thái sáng tạo hoàn chỉnh, trong đó nghệ sĩ và người làm văn hóa có môi trường để sáng tạo, thử nghiệm và phát triển lâu dài. Đồng thời, cần chú trọng hơn đến bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ để khuyến khích sáng tạo.
Cuối cùng, về việc tổ chức thực hiện, đại biểu đánh giá cao việc dự thảo đề cập đến cơ chế miễn trách nhiệm trong trường hợp làm đúng quy trình. Tuy nhiên, cần gắn cơ chế này với tính minh bạch và giám sát, tránh bị lạm dụng hoặc tạo tâm lý né tránh trách nhiệm thực chất.
"Nếu được hoàn thiện theo đúng hướng tập trung có trọng tâm và kiểm soát tốt rủi ro, Nghị quyết về cơ chế chính sách đột phá phát triển văn hóa Việt Nam hoàn toàn có thể tạo ra bước chuyển quan trọng, đưa văn hóa từ vị trí lĩnh vực tiêu dùng ngân sách trở thành ngành tạo giá trị, đóng góp cho tăng trưởng và nâng cao sức mạnh quốc gia", Hòa thượng Thích Bảo Nghiêm bày tỏ.
Đóng góp ý kiến vào dự thảo Nghị quyết của Quốc hội về phát triển văn hóa Việt Nam, đại biểu Tạ Đình Thi (Đoàn đại biểu Quốc hội thành phố Hà Nội) nêu 5 nhóm vấn đề, đề nghị Ban soạn thảo và các cơ quan liên quan tiếp tục nghiên cứu, làm rõ:
Thứ nhất, về văn hóa số và công nghiệp văn hóa công nghệ cao. Đại biểu cho rằng dự thảo đã có nhiều tiến bộ khi tại Điều 10 đề cập đến hạ tầng số, cơ sở dữ liệu quốc gia về văn hóa. Tuy nhiên, để thể chế hóa Nghị quyết 57 của Bộ Chính trị, cần "mạnh dạn" hơn nữa. Cụ thể, tại Khoản 4 Điều 4 về ưu đãi thuế cho công nghệ cao trong văn hóa, đại biểu đề nghị bổ sung đối tượng nghiên cứu và phát triển (R&D), các công cụ tạo nội dung số dựa trên trí tuệ nhân tạo (AI), thực tế ảo (VR) và chuỗi khối (Blockchain) phục vụ bảo tồn và sáng tạo văn hóa. Đại biểu cho rằng nếu không có ưu đãi đủ mạnh cho R&D trong lĩnh vực văn hóa, Việt Nam sẽ chủ yếu dừng ở chỉ số di sản, khó tạo ra các sản phẩm văn hóa số mang thương hiệu quốc gia có sức cạnh tranh toàn cầu.
Thứ hai, về Quỹ văn hóa nghệ thuật quy định tại Điều 11, đại biểu đề nghị nghiên cứu thí điểm Quỹ theo mô hình quỹ đầu tư mạo hiểm cho sáng tạo số, với cơ chế chấp nhận rủi ro theo tinh thần Nghị quyết 57 của Bộ Chính trị.
Về hội nhập quốc tế và thu hút chất xám toàn cầu, dự thảo đã đề cập đến hạ tầng số và cơ sở dữ liệu quốc gia về văn hóa. Tuy nhiên, tại Điều 4, Khoản 4, Điểm c quy định miễn, giảm thuế thu nhập cá nhân cho chuyên gia, nhà khoa học nước ngoài; đại biểu đề nghị bổ sung vào Điều 7 chính sách “visa văn hóa” hoặc “thẻ sáng tạo”. Theo đó, cho phép chuyên gia, nghệ sĩ quốc tế, nhà quản lý di sản hàng đầu được cấp thị thực dài hạn, có thể đến 5 năm hoặc gia hạn nhiều lần khi tham gia các dự án công nghiệp văn hóa tại Việt Nam, nhằm thể chế hóa tinh thần hội nhập quốc tế theo Nghị quyết 59 của Bộ Chính trị.
Ngoài ra, tại Điều 9, Khoản 4 về hoàn trả chi phí cho đoàn phim nước ngoài, đại biểu đánh giá quy định là tích cực, song cần bổ sung cơ chế “một cửa liên ngành” trong cấp phép quay phim trong thời hạn 15 ngày, nhằm tránh vướng mắc thủ tục hành chính.
Thứ ba, về thí điểm mô hình quản trị mới gắn với đổi mới sáng tạo. Tại Khoản 5 Điều 4, dự thảo cho phép Ủy ban nhân dân cấp xã giao cộng đồng tự quản thiết chế văn hóa cơ sở. Đại biểu đề nghị bổ sung quy định thí điểm thành lập doanh nghiệp xã hội văn hóa, được hưởng ưu đãi như doanh nghiệp công nghệ cao nếu có mô hình kết hợp bảo tồn di sản với ứng dụng số. Ví dụ, làng nghề truyền thống có thể thành lập hợp tác xã kiểu mới, ứng dụng thương mại điện tử và livestream đa ngôn ngữ để đưa sản phẩm văn hóa ra thị trường quốc tế.
Thứ tư, về bảo đảm nguồn lực và chống đầu tư dàn trải. Điều 3 quy định chi cho văn hóa tối thiểu 2% tổng chi ngân sách là rất đáng hoan nghênh. Tuy nhiên, đại biểu đề nghị bổ sung nguyên tắc “chi theo sản phẩm đầu ra”, gắn với các chỉ số đo lường như số lượng sản phẩm công nghiệp văn hóa xuất khẩu hoặc mức độ tương tác với di sản số hóa từ nước ngoài, phù hợp cơ chế khoán tại Điều 8.
Thứ năm, về giải quyết xung đột pháp lý. Điều 13 quy định trường hợp có khác biệt giữa Nghị quyết và các luật khác thì áp dụng theo Nghị quyết, hoặc theo văn bản có ưu đãi hơn. Đại biểu đề nghị bổ sung quy định: trong quá trình thực hiện, nếu phát sinh mâu thuẫn về thủ tục hành chính, có thể giao Thủ tướng Chính phủ quyết định tạm thời áp dụng cơ chế thuận lợi nhất cho các chủ thể văn hóa và báo cáo Quốc hội tại kỳ họp gần nhất, nhằm bảo đảm tính linh hoạt và tháo gỡ vướng mắc theo tinh thần Nghị quyết 57.
Đại biểu nhấn mạnh, trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp 4.0 và hội nhập quốc tế, văn hóa không chỉ là nền tảng tinh thần mà còn trở thành ngành kinh tế mũi nhọn dựa trên khoa học công nghệ và sức mạnh mềm toàn cầu. Việc hoàn thiện Nghị quyết được kỳ vọng tạo đột phá, đưa văn hóa thực sự trở thành đòn bẩy, động lực phát triển.