Luật Phát triển công nghiệp văn hóa:

Tạo đòn bẩy đưa công nghiệp văn hóa thành động lực tăng trưởng bứt phá của đất nước

Tại dự thảo Tờ trình Dự án Luật Phát triển công nghiệp văn hóa gửi Chính phủ, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch cho biết: Thực tiễn cho thấy Việt Nam đang hội tụ đầy đủ các nguồn lực và điều kiện thuận lợi để bứt phá trở thành một trung tâm công nghiệp văn hóa năng động trong khu vực.

cong-nghiep-vannhoas-1786000999.jpg
Luật Phát triển công nghiệp văn hóa được xây dựng với sứ mệnh là một “Luật kiến tạo”: Vừa tháo gỡ các “điểm nghẽn”, làm rõ các “điểm mờ” vừa bổ sung quy định lấp đầy các “khoảng trống” pháp lý để khơi thông nguồn lực, giải phóng sức sáng tạo, gia tăng hàm lượng văn hóa trong các sản phẩm, dịch vụ, bảo vệ thị trường nội địa và tạo đòn bẩy đưa công nghiệp văn hóa trở thành động lực tăng trưởng bứt phá của đất nước. Ảnh minh họa (Nguồn: Internet)

Là kho tàng di sản và tài nguyên văn hóa số đồ sộ, giàu bản sắc. Việt Nam sở hữu hệ thống di sản văn hóa vật thể, phi vật thể, di tích lịch sử, danh lam thắng cảnh phong phú và hàng nghìn làng nghề truyền thống. Đây là nguồn nguyên liệu sáng tạo vô tận, có giá trị kinh tế gia tăng rất cao để khai thác phát triển các ngành du lịch văn hóa, điện ảnh, âm nhạc, thiết kế, thời trang và thủ công mỹ nghệ.

Bên cạnh đó, là nguồn nhân lực trẻ, dồi dào và khả năng sáng tạo cao: Lực lượng lao động trong độ tuổi vàng với tinh thần đổi mới sáng tạo, nhanh nhạy với công nghệ và xu hướng mới. 

Đội ngũ trí thức, văn nghệ sĩ, các nhà thiết kế trẻ, các nhà sản xuất nội dung số (game, phim, âm nhạc) tại Việt Nam đã và đang khẳng định năng lực qua nhiều sản phẩm có tiếng vang trong nước và quốc tế.

Thị trường tiêu dùng văn hóa nội địa rộng lớn và năng động: Quy mô dân số gần 100 triệu người với tầng lớp trung lưu tăng nhanh, tỷ lệ sử dụng internet và thiết bị di động rất cao. Nhu cầu thụ hưởng các sản phẩm, dịch vụ văn hóa, giải trí lành mạnh, chất lượng cao của người dân - đặc biệt là thế hệ trẻ - đang gia tăng vô cùng mạnh mẽ.

Sự trỗi dậy của khu vực tư nhân và hạ tầng chuyển đổi số: Khu vực tư nhân ngày càng chủ động, tự tin đầu tư vào các chuỗi cụm sáng tạo, tổ hợp nghệ thuật, các nền tảng phân phối số. 

Sự phát triển của hạ tầng viễn thông, công nghệ thông tin (AI, Big Data, Blockchain) đang mở ra không gian phát triển hoàn toàn mới cho kinh tế sáng tạo.

Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch cũng cho biết: Công nghiệp văn hóa chính thức được đưa vào Nghị quyết số 33-NQ/TW ngày 09/06/2014 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước như một mục tiêu, nhiệm vụ cụ thể. Sau 12 năm nỗ lực triển khai, tỷ trọng công nghiệp văn hoá trong GDP Việt Nam cả giai đoạn 2018-2025 ước đạt 4-5%, còn khoảng cách rất xa so với mục tiêu đặt ra đến năm 2030 là tối thiểu 7%, khó có thể bứt phá nếu không có một “cú huých” về mặt chính sách kiến tạo của Nhà nước. 

Mặc dù có nguồn lực và tiềm năng to lớn nêu trên, nhưng thực tiễn phát triển các ngành công nghiệp văn hóa ở Việt Nam thời gian qua vẫn gặp nhiều khó khăn, chưa tương xứng với tiềm năng. Pháp luật về văn hóa còn thiếu tính đồng bộ và hệ thống, chủ yếu tiếp cận công nghiệp văn hóa dưới góc độ quản lý nhà nước đơn thuần về nội dung, thiếu các chính sách mang tính kiến tạo để thúc đẩy phát triển kinh tế, chưa coi đây là một lĩnh vực kinh tế năng động có khả năng đóng góp lớn vào GDP và giải quyết việc làm. Quy định pháp luật hiện hành còn phân tán trong các luật chuyên ngành như điện ảnh, sở hữu trí tuệ, du lịch, quảng cáo, xuất bản,  thậm chi còn nằm ở các văn bản dưới luật do lĩnh vực đó chưa được điều chỉnh bằng luật như văn học, nghệ thuật biểu diễn, mỹ thuật, nhiếp ảnh và triển lãm... Có thể thấy, quy định pháp luật đã có nhưng thiếu một luật mang tính tổng thể, kết nối từ sáng tạo, sản xuất, phân phối đến tiêu dùng các sản phẩm văn hóa. Sự thiếu vắng này tạo ra những “khoảng trống”, “điểm mờ”, “điểm nghẽn” về mặt pháp lý. 

Hiện đang thiếu một văn bản luật đưa ra chính sách từ góc nhìn giá trị kinh tế để thúc đẩy phát triển công nghiệp văn hoá bằng cách kết nối liên ngành: Văn hoá với sáng tạo, sáng tạo với quyền; quyền với vốn; vốn với sản xuất; sản xuất với phân phối; phân phối với doanh thu; doanh thu với tái đầu tư và xuất khẩu.

Đặc biệt, trong bối cảnh cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư và sự bùng nổ của các nền tảng số xuyên biên giới, hệ thống pháp luật hiện hành bộc lộ rõ sự lạc hậu trong việc quản lý, điều tiết nội dung số và bảo vệ chủ quyền văn hóa trên không gian mạng. Thiếu hành lang pháp lý đủ mạnh để bảo vệ các nhà sản xuất nội dung trong nước trước sự cạnh tranh từ nước ngoài, đồng thời định hướng phát triển các nền tảng phân phối nội dung số nội địa. Sự xâm nhập mạnh mẽ của các sản phẩm văn hóa ngoại lai với lợi thế vượt trội về công nghệ và tài chính đang tạo ra sức ép cạnh tranh khốc liệt, tiềm ẩn nguy cơ xói mòn bản sắc, gây “xâm lăng văn hóa” nếu không có một khung khổ pháp lý đủ sức “kiến tạo” và “bảo vệ”. 

Vì vậy, việc ban hành Luật Phát triển công nghiệp văn hóa là đòi hỏi cấp bách nhằm thể chế hóa Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 07/01/2026 của Bộ Chính trị về phát triển văn hoá Việt Nam. Luật được xây dựng với sứ mệnh là một “Luật kiến tạo”: Vừa tháo gỡ các “điểm nghẽn”, làm rõ các “điểm mờ” vừa bổ sung quy định lấp đầy các “khoảng trống” pháp lý để khơi thông nguồn lực, giải phóng sức sáng tạo, gia tăng hàm lượng văn hóa trong các sản phẩm, dịch vụ, bảo vệ thị trường nội địa và tạo đòn bẩy đưa công nghiệp văn hóa trở thành động lực tăng trưởng bứt phá của đất nước.

P.V